03 tháng 1, 2013

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 27 - Mô hình đồ thị Falling Wedge và Mô hình đồ thị Rising Wedge


Bài 27

Mô hình đồ thị Falling Wedge và Mô hình đồ thị Rising Wedge 

I. Mô hình đồ thị hình chêm hướng xuống (Falling Wedge)

Mô hình Falling Wedge (hình chêm hướng xuống) là mô hình đồ thị báo hiệu xu hướng tăng giá, trong đó giá dao động với biên độ rộng ở phần đỉnh và thu hẹp biên độ dần khi giá càng xuống thấp hơn. Biểu hiện giá như thế hình thành dạng hình cái chêm cửa hướng xuống khi các điểm giá cao nhất và thấp nhất chạy theo kênh giá hội tụ dần.

Falling Wedge có thể là dạng mô hình đồ thị tiếp tục xu hướng mà cũng có thể là dạng mô hình đồ thị đảo chiều. Khi là dạng tiếp tục xu hướng thì Falling Wedge vẫn hướng xuống nhưng theo chiều ngược với xu hướng chính (là xu hướng tăng giá). Khi là dạng đảo chiều thì Falling Wedge hướng xuống và hướng theo chiều của xu hướng chính (là xu hướng giảm giá). Cho dù là dạng nào thì Falling Wedge vẫn là mô hình đồ thị báo hiệu xu hướng tăng giá.
Dưới đây là những yếu tố cần chú ý trong mô hình Falling Wedge:

(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình Falling Wedge: Khi thể hiện vai trò đảo chiều thì mô hình này cần một xu hướng chính. Về lý tưởng thì Falling Wedge hình thành sau một xu hướng giảm giá kéo dài và đánh dấu mức thấp cuối cùng. Mô hình này thường hình thành qua thời kỳ 3 đến 6 tháng và xu hướng giảm giá trước đó cần kéo dài ít nhất 3 tháng.


(2) Đường kháng cự trên: Cần ít nhất 2 điểm giá cao nhất để hình thành đường kháng cự trên mà lý tưởng là cần 3 điểm, theo đó điểm cao sau nằm thấp hơn điểm cao trước.

(3) Đường hỗ trợ dưới: Cần ít nhất 2 điểm giá thấp nhất để hình thành đường hỗ trợ dưới mà lý tưởng là cần 3 điểm, theo đó điểm thấp sau nằm thấp hơn điểm thấp trước.

Đường kháng cự trên và đường hỗ trợ dưới hội tụ để tạo thành hình cái chêm khi mô hình phát triển chín mùi. 

(4) Sự phá vỡ kháng cự: Mô hình Falling Wedge không hoàn thiện cho đến khi đường kháng cự bị phá vỡ một cách thuyết phục. Một khi xuất hiện điểm phá vỡ (breakout) thì có thể có sự điều chỉnh giá test lại vùng hỗ trợ mới này.

(5) Khối lượng giao dịch: Trong khi khối lượng giao dịch không đặc biệt quan trọng khi hình thành Falling Wedge thì nó là một thành phần tất yếu để xác nhận điểm phá vỡ. Nếu không có sự mở rộng khối lượng giao dịch tại điểm phá vỡ thì nó sẽ thiếu tính thuyết phục và dễ dẫn đến thất bại mô hình.

II. Mô hình đồ thị hình chêm hướng lên (Rising Wedge)
Mô hình Rising Wedge (hình chêm hướng lên) là mô hình đồ thị báo hiệu xu hướng giảm giá, trong đó giá dao động với biên độ rộng ở phần đáy và thu hẹp biên độ dần khi giá càng lên cao hơn. Biểu hiện giá như thế hình thành dạng hình cái chêm cửa hướng lên khi các điểm giá cao nhất và thấp nhất chạy theo kênh giá hội tụ dần.

Rising Wedge có thể là dạng mô hình đồ thị tiếp tục xu hướng mà cũng có thể là dạng mô hình đồ thị đảo chiều. Khi là dạng tiếp tục xu hướng thì Rising Wedge vẫn hướng lên nhưng theo chiều ngược với xu hướng chính (là xu hướng giảm giá). Khi là dạng đảo chiều thì Rising Wedge hướng lên và hướng theo chiều của xu hướng chính (là xu hướng tăng giá). Cho dù là dạng nào thì Rising Wedge vẫn là mô hình đồ thị báo hiệu xu hướng giảm giá.


Dưới đây là những yếu tố cần chú ý trong mô hình Rising Wedge:


(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình Rising Wedge: Khi thể hiện vai trò đảo chiều thì mô hình này cần một xu hướng chính. Mô hình Rising Wedge thường hình thành qua 3 đến 6 tháng và có thể đánh dấu sự đảo chiều xu hướng trung hạn hoặc dài hạn. Đôi khi xu hướng hiện thời hoàn toàn nằm trong mô hình Rising Wedge, đôi khi mô hình này hình thành sau một xu hướng tăng giá kéo dài.



(2) Đường kháng cự trên: Cần ít nhất 2 điểm giá cao nhất để hình thành đường kháng cự trên mà lý tưởng là cần 3 điểm, theo đó điểm cao sau nằm cao hơn điểm cao trước.

(3) Đường hỗ trợ dưới: Cần ít nhất 2 điểm giá thấp nhất để hình thành đường hỗ trợ dưới mà lý tưởng là cần 3 điểm, theo đó điểm thấp sau nằm cao hơn điểm thấp trước.


Đường kháng cự trên và đường hỗ trợ dưới hội tụ để tạo thành hình cái chêm khi mô hình phát triển chín mùi.

(4) Sự phá vỡ hỗ trợ: Mô hình Rising Wedge không hoàn thiện cho đến khi đường hỗ trợ bị phá vỡ một cách thuyết phục. Một khi xuất hiện điểm phá vỡ (breakout) thì có thể có đợt tăng giá phản ứng test lại vùng kháng cự mới này.

(5) Khối lượng giao dịch: Trong khi khối lượng giao dịch không đặc biệt quan trọng khi hình thành Rising Wedge thì nó là một thành phần tất yếu để xác nhận điểm phá vỡ. Nếu không có sự mở rộng khối lượng giao dịch tại điểm phá vỡ thì nó sẽ thiếu tính thuyết phục và dễ dẫn đến thất bại mô hình.




02 tháng 1, 2013

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 26 - Mô hình Rounding Bottoms (Mô hình đáy bầu) và Mô hình Rounding Tops (Mô hình đỉnh bầu)

Bài 26

 Mô hình Rounding Bottoms (Mô hình đáy bầu) và Mô hình Rounding Tops (Mô hình đỉnh bầu)


I. Mô hình 
Rounding Bottoms (Mô hình đáy bầu)
1. Đặc trưng
- Khung thời gian: Mô hình này xuất hiện ở đồ thị ngày hoặc đồ thị tuần. 



- Xu hướng giá: Giá có xu hướng đi lên dẫn đến mô hình này trong 62% thời gian.

- Hình dáng: Mô hình đáy bầu có hình dáng cái bát, cái cốc dạng bầu, thường kéo dài qua nhiều tháng và thường xuất hiện sau một xu hướng tăng giá.

- Khối lượng giao dịch: Khối lượng giao dịch có xu hướng tạo đường cong trông giống hình vòm (51%), hình chữ U (43%), hình dáng ngẫu nhiên (6%). Xu hướng khối lượng giao dịch đi lên 51% thời gian.

- Sự xác nhận: Mô hình này xác nhận khi giá đóng cửa trên đỉnh cao nhất trong mô hình (hoặc là đỉnh bên trái hoặc là phần miệng cốc bên phải nếu có).


2. Chiến lược đầu tư

Chiến lược mua đối với mô hình Rounding Bottoms.

- Quy tắc đo: Tính chiều cao từ phần miệng tách bên phải đến thung lũng thấp nhất (điểm B) trong mô hình rồi nhân kết quả đó với tỷ lệ thỏa mãn mục tiêu giá là 57% rồi cộng kết quả này với mức giá tại phần miệng cốc bên phải sẽ được giá mục tiêu. Nếu hình cốc không có miệng bên phải thì sử dụng vành mép cốc bên trái (điểm A).
- Sự tạm ngừng: Giá thường nghỉ ngơi ít dao động tại vùng hình thành miệng cốc bên phải.

- Đế bằng: Hình dáng đế bằng kéo dài vài tháng dẫn đến mô hình Rounding Bottoms thường sẽ cho kết quả là một đợt tăng giá mạnh mẽ.

- Hiện tượng hồi lại (throwbacks): Đôi khi sau khi hình thành điểm phá vỡ thì giá hồi lại về đường xác nhận và thậm chí có thể đi xuống dưới đường xác nhận này sau đó mới tiếp tục theo xu hướng tăng giá. Hiện tượng này ảnh hưởng lớn đến tầm quan trọng của mô hình. Nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm sẽ bị bất ngờ vì hiện tượng này, dễ dàng bị thất bại trong chiến lược đầu tư của mình.


 II. Mô hình Rounding Tops (Mô hình đỉnh bầu)

1. Đặc trưng

- Khung thời gian: Mô hình này xuất hiện ở đồ thị ngày hoặc đồ thị tuần.

- Xu hướng giá: Xu hướng tăng giá dẫn đến mô hình này.

- Hình dáng: Mô hình đỉnh bầu có hình dáng cái bát, cái cốc dạng bầu nằm úp hoặc giống hình bán nguyệt.


 

- Khối lượng giao dịch: Khối lượng giao dịch có xu hướng cao hơn về phía cuối mô hình dẫn đến hình dáng bầu hoặc hình chữ U.

- Điểm phá vỡ: Đóng cửa trên đỉnh cao nhất báo hiệu điểm phá vỡ theo chiều hướng lên. Đóng cửa dưới mức giá thấp nhất tại mép phải hình cốc báo hiệu điểm phá vỡ theo chiều hướng xuống.

2. Chiến lược đầu tư
Tỷ lệ thỏa mãn mục tiêu giá: phá vỡ theo chiều lên: 61%; phá vỡ theo chiều xuống: 24%.

- Quy tắc đo: Tính chiều cao từ đỉnh cao nhất trong mô hình (điểm A) đến mức thấp nhất tại mép phải (điểm B) rồi nhân kết quả đó với tỷ lệ thỏa mãn mục tiêu giá nêu trên sau đó cộng kết quả này với mức giá của đỉnh cao nhất (đỉnh A nếu phá vỡ theo chiều lên) hoặc trừ kết quả đó với mức giá thấp nhất tại mép phải (điểm B nếu phá vỡ theo chiều xuống) để đạt giá mục tiêu (điểm C).

- Mức hồi lại 32%: Đối với nhà đầu tư lớn, nếu giá hồi 32% chiều cao của đỉnh bầu thì hãy vào trạng thái mua. Đo chiều cao từ M đến N rồi lấy 32% đoạn MN và cộng nó với mức giá thấp nhất tại điểm N để có giá P và P là giá mua. Khi mép phải (điểm N) cao hơn mép trái (điểm O) thì mô hình này rất hiệu quả.

- Hiện tượng hồi lại (throwbacks): Đôi khi sau khi hình thành điểm phá vỡ thì giá hồi lại về đường xác nhận. Hiện tượng này ảnh hưởng lớn đến tầm quan trọng của mô hình. Nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm sẽ bị bất ngờ vì hiện tượng này, dễ dàng bị thất bại trong chiến lược đầu tư của mình.

GOLD NGÀY 02/01/2013


NHẬN ĐỊNH  ĐẦU NĂM

Kết thúc năm cũ 2012 giá vàng dừng chân tại 1675usd/oz, so với giá mở cửa 1569 usd/oz, giá vàng đã tăng 6,7% trong năm 2012 đánh dấu năm tăng giá thứ 11 liên tiếp của vàng kể từ năm 2001. Năm 2013 hứa hẹn sẽ là một năm đầy sôi động của vàng.
Đầu năm, thị trường cũng đón nhận tin nóng từ thị trường Mỹ khi kết thúc năm tài chính vừa qua và sự giằng co của Thượng Viện và Hạ viện đối với “Bờ vực tài khóa”

Hạ viện Mỹ phản đối dự thảo tránh “bờ vực tài khóa”

Các nghị sỹ Cộng hòa tại Hạ viện muốn bổ sung thêm điều khoản về cắt giảm chi tiêu trong dự thảo ngân sách nhằm tránh “bờ vực tài khóa”.

Kinh tế Mỹ một lần nữa đứng trước nguy cơ suy thoái trở lại sau khi các Hạ nghị sỹ đảng Cộng hòa phản đối kế hoạch tăng thuế được lãnh đạo hai đảng và Thượng viện thông qua. Những người cho rằng, dự thảo mới chỉ tính đến giải pháp tăng thuế mà chưa bao gồm giải pháp giảm chi tiêu, do đó họ đề nghị điều chỉnh dự thảo, bổ sung điều khoản cắt giảm chi tiêu khoảng 300 tỷ USD.

Trong khi đó, một quan chức tại Thượng viện cho biết, Thượng viện sẽ bác bỏ mọi đề nghị điều chỉnh. Bế tắc này có thể sẽ khiến Mỹ rơi vào “bờ vực tài khóa” (tăng thuế, giảm chi tiêu đồng thời trị giá 600 tỷ USD) bất chấp thỏa thuận đạt được sau thời gian dài giữa lãnh đạo hai đảng.

Trước đó, ngày 1/1, Thượng viện Mỹ thông qua dự thảo tăng thuế suất lên 39,6% đối với hộ gia đình có thu nhập trên 450.000 USD/năm và tạm thời hoãn cắt giảm 109 tỷ USD ngân sách dành cho chính phủ trong hai tháng.

Ngoài ra, dự thảo cũng gia hạn bảo hiểm thất nghiệp cho 2 triệu người trong 1 năm, đồng thời áp thuế suất tối thiểu để bảo vệ người có thu nhập trung bình.

ĐIỂM QUA NHỮNG TIN CHÍNH TRONG TUẦN


TIN NỔI BẬT TRONG TUẦN
(1/2/2013/1/2013)
NGÀY
THỜI GIAN
NGOẠI TỆ
NỘI DUNG
THỰC TẾ
DỰ BÁO
KỲ TRƯỚC
ẢNH HƯỞNG
Thứ 4
10:00 pm
USD
Chỉ số sản xuất ISM
?
50.2
49.5
Thực tế>dự báo
Tốt cho kinh tế Mỹ, vàng giảm
Thứ 5
8:15
pm
USD
Thay đổi việc làm phi nông nghiệp ADP
?
134k
118k
Thực tế>dự báo
Tốt cho việc làm Mỹ, vàng giảm
8:30pm
Đơn xin trợ cấp thất nghiệp
?
356k
350k
Thực tế>dự báo
Xấu cho việc làm Mỹ, vàng tăng
Thứ 6
2:00am











USD
Cuộc họp FOMC



Thảo luận chính sách kinh tế, thống nhất biện pháp tránh “bờ vực tài khóa” năm 2013
8:30pm
Tỷ lệ thất nghiệp
?
7.7%
7.7%
Thực tế>dự báo
Xấu cho Việc làm Mỹ, vàng tăng
8:00pm
Thay đổi việc làm phi nông nghiệp
?
135k
146k
Thực tế>dự báo
Tốt cho việc làm Mỹ, vàng giảm
10:00pm
Chỉ số phi sản xuất ISM
?
54.3
54.7
Thực tế>dự báo
Tốt cho kinh tế Mỹ, vàng giảm



 CHIẾN LƯỢC HÔM NAY

Sell-1681   Cắt lỗ 1687  Chốt lời 1668

Canh mua lại 1665 - 1668  Chốt 1695 - 1697   Cắt lỗ 1660

Tuần này rất có khả năng vàng sẽ test lại vùng tiệm cận cản 1700 usd/oz



HAPPY NEW YEAR!

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 25 Mô hình Triple Tops (Mô hình 3 đỉnh) và Mô hình Triple Bottoms (Mô hình 3 đáy)

Bài 25

Mô hình Triple Tops (Mô hình 3 đỉnh) và 
Mô hình Triple Bottoms (Mô hình 3 đáy)


I. Mô hình Triple Tops (Mô hình 3 đỉnh)
1/ Đặc trưng:
- Xu hướng giá: Xu hướng tăng giá dẫn đến mô hình này.

- Hình dáng: Ba đỉnh riêng biệt có hình dáng tương tự tạo đỉnh gần một mức giá với điểm phá vỡ theo chiều hướng xuống.

- Đỉnh giữa: Đôi khi đỉnh giữa nằm tại mức giá hơi thấp hơn một chút so với 2 đỉnh 2 bên.

- Sự xác nhận: Mô hình xác nhận là mô hình 3 đỉnh khi giá đóng cửa dưới thung lũng thấp nhất trong mô hình.


- Khối lượng giao dịch: Thường thì khối lượng giao dịch theo chiều hướng giảm trong 59% thời gian song thường ở mức cao trong khi hình thành mỗi đỉnh.

Có nhiều mô hình 3 đỉnh trong thị trường đầu tư giá xuống hơn trong thị trường đầu tư giá lên. Mô hình này kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, có khi vài năm.

2/ Chiến lược đầu tư

- Quy tắc đo: Tính chiều cao từ đỉnh cao nhất (điểm B) đến thung lũng thấp nhất (điểm A) rồi nhân nó với tỷ lệ thỏa mãn mục tiêu giá là 40% rồi trừ kết quả đó với mức giá tại điểm phá vỡ (breakout tại A) sẽ được mục tiêu (điểm C).

- Kỳ vọng sự xác nhận: Kỳ vọng giá đóng cửa nằm dưới thung lũng thấp nhất (đường confirmation hay điểm A) trước khi vào trạng thái bán.

- Sự đảo chiều: Giá có lúc sẽ đảo chiều vì thế nếu đợt tăng giá dẫn đến mô hình này ở mức độ nhỏ thì đợt giảm giá sau mô hình sẽ ở mức độ nhỏ.

- Các đỉnh: Khi đỉnh thứ 3 nằm dưới đỉnh giữa thì sẹ có đợt giảm giá mạnh hơn. Đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước cho thấy sự suy yếu do giá cố gắng thiết lập mức cao mới song thất bại.

- Tốc độ giá: Đợt tăng giá có tốc độ cao dẫn đến mô hình này thường sẽ dẫn đến một đợt giảm giá lớn hơn sau điểm breakout.

- Hiện tượng hồi lại (throwbacks): Đôi khi sau khi hình thành điểm phá vỡ thì giá hồi lại về đường xác nhận và thậm chí có thể đi xuống dưới đường xác nhận này sau đó mới tiếp tục theo xu hướng tăng giá. Hiện tượng này ảnh hưởng lớn đến tầm quan trọng của mô hình. Nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm sẽ bị bất ngờ vì hiện tượng này, dễ dàng bị thất bại trong chiến lược đầu tư của mình.


II. 
Mô hình Triple Bottoms (Mô hình 3 đáy)
1/ Đặc trưng
- Xu hướng giá: Xu hướng giảm giá dẫn đến mô hình này nhưng giá sẽ không giảm xuống dưới đáy đầu tiên.
- Hình dáng: Ba thung lũng riêng biệt có hình dáng tương tự.
- Giá tại đáy: Chênh lệch giá giữa các đáy là nhỏ vì thế dường như 3 đáy thung lũng có mức giá gần như nhau song cho phép sai số.

- Sự xác nhận: Mô hình xác nhận là mô hình 3 đáy khi giá đóng cửa trên đỉnh cao nhất giữa 2 thung lũng.


Khối lượng giao dịch: Thường thì khối lượng giao dịch ở đáy thứ nhất cao hơn ở đáy thứ 3 và có xu hướng giảm dần trong 67% thời gian nhưng nó có thể tạo đỉnh tại mỗi đáy.
2/ Chiến lược đầu tư
- Quy tắc đo: Tính chiều cao từ đỉnh cao nhất (điểm A) đến thung lũng thấp nhất (điểm B) rồi nhân nó với tỷ lệ thỏa mãn mục tiêu giá là 64% rồi cộng kết quả đó với mức giá tại điểm phá vỡ (breakout tại A) sẽ được mục tiêu (điểm C).

- Kỳ vọng sự xác nhận: Kỳ vọng giá đóng cửa nằm trên đỉnh giữa 2 thung lũng (điểm A). Mô hình 3 đáy thường hiếm thấy vì thế giá thường tiếp tục đi xuống mà không xác nhận mô hình 3 đáy.
- Đợt tăng giá giữa các đáy: Nếu đợt tăng giá giữa 2 đáy đầu cao hơn đợt tăng giá giữa đáy 2 và đáy 3 thì hãy vẽ một đường xu hướng nối qua các đỉnh, khi giá cắt qua đường xu hướng này thì nên vào trạng thái mua.
- Hình kệ đỡ: Đỉnh thứ 3 đôi khi có hình dẹt ngang có xu thế hỗ trợ giá. Khi giá tăng lên trên đỉnh của kệ đỡ (Shelf) này thì hãy vào trạng thái mua.
- Thung lũng thứ 2: Nếu đáy thung lũng cuối cùng nằm trên đáy thung lũng thứ 2 thì kỳ vọng mô hình thể hiện tốt hơn.
- Hiện tượng hồi lại (throwbacks): Đôi khi sau khi hình thành điểm phá vỡ thì giá hồi lại về đường xác nhận và thậm chí có thể đi xuống dưới đường xác nhận này sau đó mới tiếp tục theo xu hướng tăng giá. Hiện tượng này ảnh hưởng lớn đến tầm quan trọng của mô hình. Nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm sẽ bị bất ngờ vì hiện tượng này, dễ dàng bị thất bại trong chiến lược đầu tư của mình.

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 24 Mô hình đồ thị đầu và vai (Head & Shoulders) và Mô hình đồ thị đầu và vai ngược (Inverse Head & Shoulders)

Bài 24

Mô hình đồ thị đầu và vai (Head & Shoulders) và Mô hình đồ thị đầu và vai ngược (Inverse Head & Shoulders)

I/ Mô hình đầu và vai (Head & Shoulders) là mô hình đồ thị đảo chiều hình thành sau một xu thế tăng giá (uptrend) và thời điểm hoàn thành mô hình này đánh giá sự đảo chiều. Mô hình đầu và vai bao gồm 3 đỉnh kế tiếp nhau trong đó đỉnh giữa (phần đầu) là đỉnh cao nhất và 2 đỉnh ở hai bên (vai trái và vai phải) thì thấp hơn và thấp bằng nhau. Các mức giá thấp (low) phản ứng của mỗi đỉnh có thể được nối với nhau để hình thành vùng hỗ trợ hay đường viễn cổ (neckline).


Như tên gọi của nó, mô hình đồ thị đảo chiều đầu và vai gồm có phần vai trái (left shoulder), phần đầu (head), phần vai phải (right shoulder) và phần viền cổ (neckline). Những yếu tố khác đóng vai trò không kém quan trọng trong mô hình này là khối lượng giao dịch (volume), điểm phá vỡ (breakout), mục tiêu giá (target), vùng hỗ trợ (support) trở thành vùng kháng cự (resistance).

Dưới đây là những điểm quan trọng cần chú ý trong mô hình đầu và vai:
(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình đầu và vai: Xu hướng tăng giá.

(2) Phần vai trái: Trong một xu hướng tăng giá, phần vai trái tạo thành đỉnh đánh dấu điểm cao nhất của xu hướng hiện thời. Sau khi hình thành đỉnh, một đợt giảm giá sẽ hoàn thiện phần vai trái. Mức giá thấp nhất của đợt sụt giảm này thường vẫn nằm trên đường xu hướng hỗ trợ của xu hướng tăng giá, vẫn giữ cho xu hướng này còn hiệu lực.
(3) Phần đầu: Từ mức giá thấp nhất ở phần vai trái, một đợt tăng giá bắt đầu vượt qua đỉnh vai trái và đánh dấu đỉnh của phần đầu. Say khi tạo đỉnh đầu thì mức giá thấp nhất của đợt giảm giá sau đó đánh dấu điểm thứ 2 cho đường viền cổ. Mức giá thấp nhất của đợt giảm giá này thường phá vỡ đường xu hướng hỗ trợ của xu hướng tăng giá.

(4) Phần vai phải: Đợt tăng giá từ mức thấp nhất của phần đầu hình thành phần vai phải. Đỉnh vai phải thấp hơn đỉnh đầu và thường có cùng chiều cao với phần vai trái. Độ đối xứng như thế được ưu tiên song đôi khi các phần vai có chút chênh nhau. Đợt giảm giá từ đỉnh vai phải đi xuống sẽ phá vỡ qua đường viền cổ.

(5) Đường viền cổ: Đường viền cổ tạo thành khi ta nối các điểm thấp Low 1 và Low 2. Điểm Low 1 đánh dấu điểm cuối cùng của phần vai tráo và điểm khởi đầu phần đầu. Điểm Low 2 đánh giá điểm cuối cùng của phần đầu và điểm khởi đầu của phần vai phải. Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa 2 điểm thấp nhất này mà đường viền cổ có thể có độ dốc lên, dốc xuống hoặc nằm ngang. Độ dốc của đường viền cổ sẽ ảnh hưởng đến mức độ xu thế đi xuống sau mô hình. Đường viền cổ có độ dốc xuống có tính chất bearish (xu thế đầu cơ giá xuống) hơn so với độ dốc hướng lên.

(6) Khối lượng giao dịch: Khối lượng giao dịch trong suốt đợt tăng giá ở phần vai trái cao hơn so với đợt tăng giá ở phần đầu. Sự giảm dần về khối lượng giao dịch và mức cao mới ở phần đầu có vai trò là dấu hiệu cảnh báo. Và dấu hiệu cảnh báo kế tiếp xuất hiện khi khối lượng giao dịch gia tăng trong đợt giảm giá đi xuống từ phần đỉnh đầu. Và cuối cùng là khối lượng giao dịch tăng thêm trong đợt giảm giá đi xuống ở phần vai phải.

(7) Sự phá vỡ đường viền cổ: Mô hình đầu và vai không hoàn thiện và xu hướng tăng giá không bị đảo chiều cho đến khi vùng hỗ trợ tại đường viền cổ bị phá vỡ. Thực tế này có tính thuyết phục hơn khi khối lượng giao dịch mở rộng thêm tại điểm phá vỡ (breakout) của đường viền cổ.

(8) Vùng hỗ trợ trở thành vùng kháng cự: Một khi vùng hỗ trợ bị phá vỡ thì nó trở thành vùng kháng cự mới. Đôi khi sau điểm phá vỡ thì giá sẽ hồi lại vùng hỗ trợ cũ và cho phép cơ hội thứ 2 để vào trạng thái bán (nhưng trường hợp này không phải luôn luôn xuất hiện).

(9) Mục tiêu giá: Sau khi phá vỡ vùng hỗ trợ tại đường viền cổ, mục tiêu giá cho đợt sụt giảm được tính bằng cách đo khoảng cách từ đường viền cổ đến đỉnh đầu rồi trừ kết quả đó cho mức giá tại điểm phá vỡ. Phương pháp này chỉ là cách ước tính mục tiêu. Những yếu tố khác như công cụ Fibonacci Retracement (mức hoàn lại theo tỷ lệ Fibonacci) cần được sử dụng để tính mục tiêu chính xác hơn.

II/ Mô hình đầu và vai ngược (Inverse Head & Shoulders) hay còn gọi là mô hình đáy đầu và vai (Head & Shoulders Bottom) là mô hình đồ thị đảo chiều hình thành sau một xu thế giảm giá (downtrend) và thời điểm hoàn thành mô hình này đánh giá sự đảo chiều. Mô hình đầu và vai bao gồm 3 đáy kế tiếp nhau trong đó đáy giữa (phần đầu) là đáy thấp nhất và 2 đáy ở hai bên (vai trái và vai phải) thì thấp hơn và thấp bằng nhau. Các mức giá cao (high) phản ứng ở chính giữa mô hình có thể được nối với nhau để hình thành vùng hỗ trợ hay đường viễn cổ (neckline).

Như tên gọi của nó, mô hình đồ thị đảo chiều đầu và vai ngược gồm có phần vai trái (left shoulder), phần đầu (head), phần vai phải (right shoulder) và phần viền cổ (neckline) và những phần này có hình dáng nằm ngược 1800 so với các bộ phận của mô hình đỉnh đầu và vai. Những yếu tố khác đóng vai trò không kém quan trọng trong mô hình này là khối lượng giao dịch (volume), điểm phá vỡ (breakout), mục tiêu giá (target), vùng hỗ trợ (support) trở thành vùng kháng cự (resistance).



Biểu hiện giá hình thành mô hình đỉnh đầu và vai (Head & Shoulders Top) vẫn khá giống nhau song theo hướng ngược nhau. Vai trò của khối lượng giao dịch đánh dấu điểm khác nhau lớn nhất giữa 2 mô hình này. Nói chung, khối lượng giao dịch đóng vai trò quan trọng hơn khi hình thành mô hình đáy đầu và vai so với khi hình thành mô hình đỉnh đầu và vai. Trong khi sự gia tăng khối lượng giao dịch tại điểm phá vỡ (breakout) ở đường viền cổ được xem xét ở mô hình đỉnh đầu và vai thì nó được yêu cầu tuyệt đối ở mô hình đáy đầu và vai.


Dưới đây là những điểm quan trọng cần chú ý trong mô hình đầu và vai:


(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình đầu và vai ngược: Xu hướng giảm giá.


(2) Phần vai trái: Trong một xu hướng giảm giá, phần vai trái tạo thành đáy đánh dấu điểm thấp nhất của xu hướng hiện thời. Sau khi hình thành vùng đáy này, một đợt tăng giá sẽ hoàn thiện phần vai trái. Mức giá cao nhất của đợt tăng giá này thường vẫn nằm dưới đường xu hướng kháng cự của xu hướng giảm giá, vẫn giữ cho xu hướng này còn hiệu lực.

 


(3) Phần đầu: Từ mức giá cao nhất ở phần vai trái, một đợt giảm giá bắt đầu vượt qua đáy vai trái và đánh dấu điểm đáy của phần đầu. Sau khi tạo đáy phần đầu thì mức giá cao nhất của đợt tăng giá sau đó đánh dấu điểm thứ 2 cho đường viền cổ. Mức giá cao nhất của đợt tăng giá này thường phá vỡ đường xu hướng kháng cự của xu hướng giảm giá chính trước đó.

(4) Phần vai phải: Đợt giảm giá từ mức cao nhất của phần đầu hình thành phần vai phải. Đáy vai phải luôn cao đáy đầu và thường thấp tương đương với phần vai trái. Độ đối xứng như thế được ưu tiên song đôi khi các phần vai có chút chênh nhau. Đợt tăng giá từ đáy vai phải đi lên sẽ phá vỡ qua đường viền cổ và từ đó sự đảo chiều theo mô hình đáy đầu và vai cũng hoàn thành.

(5) Đường viền cổ: Đường viền cổ tạo thành khi ta nối các điểm cao High 1 và High 2. Điểm High 1 đánh dấu điểm cuối cùng của phần vai trái và điểm khởi đầu phần đầu. Điểm High 2 đánh giá điểm cuối cùng của phần đầu và điểm khởi đầu của phần vai phải. Tùy thuộc vào mối quan hệ giữa 2 điểm cao nhất này mà đường viền cổ có thể có độ dốc lên, dốc xuống hoặc nằm ngang. Độ dốc của đường viền cổ sẽ ảnh hưởng đến mức độ xu thế giá đi lên sau mô hình. Đường viền cổ có độ dốc lên có tính chất bullish (xu thế đầu cơ giá lên) hơn so với độ dốc hướng xuống.


(6) Khối lượng giao dịch: Khối lượng giao dịch (volume) trong suốt đợt giảm giá ở phần vai trái thường khá lớn và sức bán cũng khá mạnh. Cường độ bán có thể tiếp tục trong suốt đợt giảm giá hình thành đáy phần đầu. Sau khi đáy phần đầu hình thành thì các mô hình khối lượng giao dịch tiếp sau đó cần được theo dõi cẩn thận để kỳ vọng sự mở rộng khối lượng giao dịch trong suốt những đợt tăng giá tiếp theo ở phần vai phải.


(7) Sự phá vỡ đường viền cổ: Mô hình đầu và vai ngược không hoàn thiện và xu hướng giảm giá không bị đảo chiều cho đến khi vùng kháng cự tại đường viền cổ bị phá vỡ. Thực tế này có tính thuyết phục hơn khi khối lượng giao dịch mở rộng thêm tại điểm phá vỡ (breakout) của đường viền cổ.

(8) Vùng kháng cự thành vùng hỗ trợ: Một khi vùng kháng cự bị phá vỡ thì nó trở thành vùng hỗ trợ mới. Thường thì sau điểm phá vỡ, giá sẽ hồi lại vùng kháng cự cũ và cho phép cơ hội thứ 2 để vào trạng thái mua (nhưng trường hợp này không phải luôn luôn xuất hiện).

(9) Mục tiêu giá: Sau khi phá vỡ vùng kháng cự tại đường viền cổ, mục tiêu giá cho đợt tăng giá sau điểm phá vỡ được tính bằng cách đo khoảng cách từ đường viền cổ đến điểm đáy phần đầu rồi cộng kết quả đó cho mức giá tại điểm phá vỡ. Phương pháp này chỉ là cách ước tính mục tiêu. Những yếu tố khác như công cụ Fibonacci Retracement (mức hoàn lại theo tỷ lệ Fibonacci)