Hiển thị các bài đăng có nhãn Học Forex: Indicator - Elliott. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Học Forex: Indicator - Elliott. Hiển thị tất cả bài đăng

02 tháng 6, 2013

Tìm đặc điểm bản thân - Lựa chọn khung thời gian dịch (Biên soạn và st)

Nhận biết đặc điểm bản thân của bạn


Thành phần trader trong Forex rất đa dạng : nam, nữ, mập, ốm, đẹp, xấu, nhanh nhẹn, chậm chạp, chuyên nghiệp, nghiệp dư …và nhiều hơn nữa.

Mỗi trader đều có đặc điểm bản thân riêng, kế hoạch làm việc, sở thích mạo hiểm, nỗ lực và khả năng tài chính của riêng mình.

Một số trader có thể có vài điểm chung nào đó, nhưng phần lớn đều khác nhau. Điều quan trọng là mỗi chúng ta là một cá thể độc nhất vô nhị. Và tùy thuộc vào cá tính, sở thích cá nhân, và hoàn cảnh của bạn, cách bạn trade sẽ là một yếu tố dẫn dắt bạn tới thành công.
Để nhận ra bạn nên trade như thế nào, bạn phải tự khám phá đặc điểm bản thân của bạn trong giao dịch. Đặc điểm bản thân của bạn trong giao dịch sẽ quyết định kiểu trade và phương pháp trade phù hợp cho bạn.
Việc trade không giống như một cái áo, nó không có một kích cỡ phù hợp với nhiều người cũng như không có một kế hoạch phù hợp cho mọi trader.

Bạn hãy tự thực hiện việc đánh giá cá tính, cách hành xử, sự tự tin và cảm xúc của bạn. Bạn có tính kỷ luật không? Bạn là người không thích mạo hiểm hay là người thích mạo hiểm cao? Bạn là người do dự hay phóng khoáng? Bạn là người kiên nhẫn hay bốc đồng? Bạn thích chơi nhảy bungee hay đi tham quan viện bảo tàng?…

Một cách tuyệt vời để giúp bạn tự đánh giá bản thân là lập nhật ký giao dịch. Nó sẽ giúp bạn phân tích quá trình suy nghĩ của bạn sau khi giao dịch và xác định ưu điểm và khuyết điểm của bạn trong giao dịch. Hiểu được đặc điểm bản thân của mình là một chuyện, nhưng hiểu được đặc điểm bản thân của bạn trong giao dịch lại là một chuyện hoàn toàn khác. Nhật ký giao dịch cho phép bạn xem lại các giao dịch thắng và thua của bạn để từ đó rút ra được nguyên nhân tại sao bạn thắng hoặc thua.


Bây giờ, trước khi chúng ta đi sâu vào phân tích các kiểu giao dịch, hãy xem qua sơ lược một số trader, xem kiểu giao dịch của họ và ảnh hưởng cuộc sống của họ.


Các kiểu giao dịch

Pete : “Position Trader”
Pete là một người đàn ông bận rộn với vợ, 8 con, 4 con chó, 3 con mèo, 02 con chuột và một con rồng komodo. Thực khó để nuôi sống một gia đình lớn như vậy, nhưng cũng may mắn vì Pete là một bác sỹ thành đạt.
Pete không thích ngồi trước máy tính cả ngày. Ông ấy thích đọc về kinh tế thế giới và có một danh sách các quốc gia mà ông ấy theo dõi các thông tin kinh tế. Pete thích “position trade”. Ông ấy chỉ trade vài giao dịch trong một năm. Thường là vào cuối năm ông ấy có thể đếm các giao dịch của mình trên một bàn tay.
Để thực hiện giao dịch, ông ấy sử dụng phân tích cơ bản. Nghĩa là ông ấy bỏ ra một hoặc 2 giờ mỗi tuần để xem các báo cáo kinh tế (như GDP, việc làm, CPI…). Sau đó ông ấy đưa ra quyết định cách giao dịch, nhưng không thực hiện tự động với các tín hiệu. Các giao dịch của Pete là long-term vì vậy lợi nhuận là rất lớn – nhưng cũng vì vậy mà stop loss cũng lớn. Mức stop loss của ông ấy thường trong khoảng từ 100-500pips trong khi đó lợi nhuận trong khoảng từ 500 – 1,000pips hoặc hơn nữa. Giao dịch của ông ấy có tỷ lệ reward/risk lớn, điều này cho phép ông ta giảm tối thiểu khi thua, nhưng trúng số khi ông ấy quyết định đúng.

Pete thực sự thích làm một “position trader” bởi vì nó cho phép ông ấy có một cuộc sống với công việc hiện tại và trách nhiệm với gia đình, Pete hầu như không có thời gian để làm “day trader”. Kiểu giao dịch của ông ấy không cần thiết phải đưa ra quyết định nhanh chóng và cho phép ông ấy chờ đợi một xu hướng dài hạn. Như một position trader, ông ấy vẫn có thể chu đáo với công việc và gia đình.

Sam : Swing Trader
Sam là một chàng trai độc thân có một quán cà phê nhỏ tại một góc phố, đó là nơi anh ta làm việc. Anh ta cũng là một trader và có thể theo dõi thị trường 1 hoặc 2 giờ mỗi ngày.
Sam thích thực hiện giao dịch trong khung thời gian ngắn hơn Pete – một position trader. Anh ta cố gắng tiên đoán giao động ngắn hạn của một cặp tiền và sẵn sàng giữ giao dịch trong vài ngày tùy thuộc vào biến động của giá. Một vài giao dịch của Sam có thể từ vài ngày đến cả tuần.
Sam dành ra một giờ mỗi ngày hoặc buổi tối để theo dõi thị trường. Nửa giờ đầu dùng cho việc đọc các thông tin kinh tế trong ngày và xem 24 giờ tới sẽ có các tin tức gì. Dựa trên thông tin tổng thể, anh ta quyết định cặp tiền sẽ xem xét biến động. Bởi vì anh ta chỉ theo dõi hai hoặc ba cặp tiền cho nên anh ta không mất nhiều thời gin để đọc các tin tức trong ngày.
Sau khi Sam đọc xong các báo cáo và tin tức kinh tế, anh ấy xác định thị trường sẽ biến động hay đứng yên trong vài ngày tới hoặc thậm chí vài tuần tới. Anh ấy mở đồ thị lên và sử dụng phân tích kỹ thuật để tìm các điểm mở và đóng giao dịch tốt nhất. Các công cụ Sam sử dụng để tìm các mức kháng cự và hỗ trợ bao gồm : các mức thoái lui Fibonacci, các kênh (chanels), các đường xu hướng, đường trung bình … Sau đó Sam đặt các order kèm với stop loss và profit target, vì vậy việc mở và đóng giao dịch sẽ hoàn toàn tự động. 
Sam đã khá thành công. Anh ấy có mức thua lỗ từ 50 – 100 pips, trong khi mức thu lời trong khoảng từ 100 – 500 pips.
Sam thường kiểm tra các giao dịch của mình một hoặc hai lần mỗi ngày chỉ để đảm bảo không có sự kiện bất thường nào ảnh hưởng đến các giao dịch của anh ấy, thời gian còn lại trong ngày Sam dùng cho những công việc khác như quản lý quán cà phê, hoặc lướt internet để đọc các sách về kinh tế ...

Diona : “Day Trader”
Diona là một người rất nóng vội và cô ấy luôn luôn cảm thấy “cần phải làm việc gì đó”. Kiểu giao dịch của Diona là những giao dịch mở và đóng trong ngày. Vài ngày, cô ấy có thể chỉ giao dịch một lần. Nhưng đa số các ngày khác, cô ấy thường giao dịch vài lần trước khi thị trường đóng cửa. Diona đóng tất cả các giao dịch khi thị trường đóng cửa (5 pm. EST) hoặc khi một phiên giao dịch nào đó đóng cửa chẳng hạn như phiên giao dịch của Châu Âu hoặc Châu Á. Như một “day trader”, Diona cảm thấy cần phải có mặt suốt thời gian thị trường mở cửa bởi vì cô ấy sợ bỏ mất một cơ hội giao dịch tốt. Cô ấy không muốn mạo hiểm và sợ mất nhiều tiền trong mỗi giao dịch vì thế cô ấy sử dụng mức stop loss ít.
Diona đã mất vài năm để phát triển một chiến thuật riêng để kiếm tiền từ thị trường Forex. Tài khoản của Diona đủ lớn để cô ấy có thể nghỉ việc và theo dõi thị trường cả ngày như hiện nay. Mặc dù Diona nắm rõ mọi tin tức trong ngày, nhưng cô ấy chủ yếu dựa vào phân tích kỹ thuật khi giao dịch. Cô ấy thường sử dụng các công cụ kỹ thuật dạng “oscillator” như MACD, RSI, Stochastic và đường trung bình, các công cụ này cho tín hiệu mở và đóng giao dịch và Diona chỉ trade theo tín hiệu.

Hầu như mỗi ngày Diona kiếm được từ 10 – 50 pips hoặc hơn nữa trong khi mức thua lỗ tối đa chỉ khoảng từ 10 – 20 pips, nhưng thỉnh thoảng cô ấy cũng “scalp” theo thị trường. “Scalping” là một phương pháp giao dịch với lượng lớn và chỉ thu lợi vài pips (thường 5 – 10 pips). Phần lớn các giao dịch scalp của Diona chỉ kéo dài vài phút hoặc thậm chí vài giây!

Phương pháp “day trading” và “scalping” cho phép Diona thực hiện từ một đến vài giao dịch một ngày và đáp ứng nhu cầu “cần phải làm việc gì đó”. Sự tin tưởng vào hệ thống của mình (system) cho phép Diona kiên định với kế hoạch và các nguyên tắc giao dịch của mình.Cô ấy không phải quyết định nên hay không nên mở giao dịch vì đồ thị đã làm việc này cho cô ấy! Tuy nhiên, Diona biết rằng hệ thống giao dịch của mình không hoàn hảo. Diona thua hơn một nửa số giao dịch nhưng mức thu lợi trung bình gần gấp đôi mức thua lỗ. Vì thế xét về lâu dài Diona vẫn thu lợi từ thị trường Forex. Bây giờ cô ấy có thể làm việc tại nhà, tự mình làm chỉ và có thể đi du lịch bất kỳ lúc nào.

Bạn thuộc kiểu trader nào?
Vậy thì bạn thuộc kiểu trader nào?
Câu hỏi đầu tiên là “Bạn phải bỏ bao nhiêu thời gian để giao dịch và một giao dịch của bạn có thể kéo dài bao lâu?
Chúng ta có thể xác định các kiểu giao dịch khác nhau bằng khung thời gian. Hãy xem qua các kiểu giao dịch dưới đây và xem cái nào phù hợp với bạn :
• Scalping – Scalper là một trader ngắn hạn, thường mở và đóng giao dịch chỉ trong vài giây. Phần lớn các forex broker ngăn cản kiểu giao dịch này. Kiểu giao dịch này cũng rất mạo hiểm do sử dụng lượng giao dịch lớn để kiểm lợi nhuận từ vài pips. Không dành cho những người yếu tim hoặc ít tiền.
• Day traders – là những trader mở và đóng giao dịch trong cùng một phiên giao dịch (trading session).
• Swing traders – là những trader có thể giữ giao dịch trong vài ngày.
• Position trading – là những trader dài hạn, họ có thể giữ một giao dịch từ vài tuần đến vài tháng.
Câu hỏi kế tiếp “Bạn phân tích thị trường và quyết định giao dịch dựa vào cái gì?
• Technical Analysis (phân tích kỹ thuật) – sử dụng đồ thị và các công cụ kỹ thuật để phân tích biến động giá trước đó của cặp tiền để tiên đoán biến động giá trong tương lai
• Fundamental Analysis (phân tích cơ bản)– theo dõi và phân tích các báo cáo kinh tế và các chỉ số kinh tế như GDP, CPI, việc làm hoặc các thông tin chính trị có thể ảnh hưởng đến kinh tế và đồng tiền của một quốc gia.
Và câu hỏi cuối cùng “Bạn là một “system trader”, hay “discretionary trader”?”
• System Trader – một system trader thực hiện mở và đóng giao dịch khi có tín hiệu từ hệ thống giao dịch của mình bao gồm các công cụ kỹ thuật. VD : nếu công cụ Stochastic cho thấy cặp tiền đang oversold thì system trader sẽ tự động mở giao dịch “buy”.
• Discretionary trader – kiểu giao dịch này thường là các trader sử dụng cả phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản. Phân tích kỹ thuật có thể cho một tín hiệu mở giao dịch tốt, nhưng phân tích cơ bản lại cho thấy một tương lai khác cho cặp tiền đó.

Tóm tắt

Thành công trong giao dịch forex là một việc khó khăn, mất thời gian và đôi khi cả máu, mồ hôi và nước mắt. Những người mới học làm trader cần phải xác định đúng đắn ngay từ khi bắt đầu. Người mới bắt đầu nên khởi đầu với số tiền nhỏ và luôn đánh giá các giao dịch thắng lợi cũng như thua lỗ của mình.

Như tôi đã nói từ đầu, việc giao dịch không giống như mua một cái áo. Không có một kích cỡ vừa cho mọi người. Trước khi bạn có thể thành công trong giao dịch, bạn phải mất nhiều thời gian thực tập, học được các ưu điểm cũng như khuyết điểm của bạn, và lập kế hoạch làm việc cho mình cũng như tích lũy vốn, kinh nghiệm.
Hãy dành thời gian trả lời các câu hỏi và xem lại nhật ký giao dịch của bạn để xem bạn phù hợp với những tình huống nào. Sau đó bạn có thể quyết định kiểu giao dịch phù hợp cho bạn 
(st)

Lựa chọn khung thời gian nào để giao dịch ? (Dịch và biên soạn: Bin & Yoko)

Khi thị trường hoạt động, chúng ta chỉ chủ yếu nghiên cứu biểu đồ và cột giá, biểu đồ giá trong từng khung thời gian cho chúng ta thấy sự biến động của giá trong từng khoảng thời gian nhất định. Nếu cột giá trong biểu đồ H1, H4 hay biểu đồ ngày, mỗi cột giá trong biểu đồ cho thấy sự biến động của giá trong 1 khoảng thời gian cụ thể mà nó phản ảnh. Lấy ví dụ, trong biểu đồ H1,  chúng ta có thể thấy được sự dao động của thị trường trong 1 giờ đồng hồ qua bằng cách nhìn vào cây nến trước đó trong biểu đồ. Điều này đồng nghĩa rằng, với biểu đồ H1 và H4 có thể cho chúng ta nhiều dữ liệu và cái nhìn sâu sắc hơn về sự thay đổi của thị trường so với biểu đồ 5 phút (M5). Tương tự, biểu đồ ngày D1 sẽ cho chúng ta thấy nhiều sự biến động của thị trường hơn là biểu đồ H1 và H4.

Bài viết này không phải để chỉ ra chọn khung thời gian nào để giao dịch, mục đích  giải thích  tại sao các khung thời gian lại ảnh hưởng đến các tín hiệu giao dịch của bạn, dựa vào đó bạn có thể chọn điểm ra vào lệnh và tăng lợi nhuận – giảm rủi ro cho các giao dịch của mình.

Sự liên kết giữa thời gian và sự tin cậy
Hãy tưởng tượng thị trường như là mối quan hệ cá nhân giữa 2 con người, nếu bạn biết một ai đó càng lâu thì bạn càng biết rằng liệu bạn có thể tin tưởng người đó được không.
Nếu bạn cảm thấy một người đáng tin thì qua thời gian bạn có thể tin tưởng được họ, tuy nhiên nếu một người lừa dối bạn nhiều lần, chắc chắn rằng càng ngày bạn sẽ không thể tin tưởng được nữa. Điều quan trọng ở đây là nếu bạn không dành thời gian để tìm hiểu một người nào đó, bạn thật sự không thể phán xét gì được với bất cứ cách nào.

Điều này cũng tương tự như trong giao dịch. Bạn càng nghiên cứu khung thời gian dài hơn như H4 hay biểu đồ ngày, “cảm giác” với thị trường của bạn sẽ được cải thiện tốt hơn bởi vì bạn có thể biết nhiều hơn về nó và có thể dễ thấy được “toàn cảnh” của thị trường hơn là khi bạn chỉ theo dõi khung thời gian ngắn hạn. Khung thời gian dài hạn hơn có thể chứa nhiều khối lượng giao dịch hơn, chứa đựng nhiều dữ liệu hơn các khung thời gian ngắn hạn. Nếu bạn chỉ nghiên cứu biểu đồ 5 phút và 15 phút, bạn đã bỏ qua những phần lớn hơn, đáng chú  ý hơn của thị trường. Nhưng đây là cái bạn có thể nhận thấy khi nhìn vào biểu đồ dài hạn.

Hãy xem 1 ví dụ cụ thể ở biểu đồ 5 phút, thật sự không thể cho bạn biết nhiều về “bức tranh lớn hơn” của thị trường. Dưới đây chúng ta sẽ xem biểu đồ 5 phút của cặp USD/JPY, và chỉ từ dữ liệu này chúng ta không thể biết rõ được xu hướng chung của thị trường tiếp theo là như thế nào, bởi vì thị trường lên xuống rất nhanh và không có nhiều cơ sở để phân tích.


Đây là biểu đồ 5 phút của USD/JPY trong khoảng thời gian 6h đồng hồ và nó chỉ biến động trong vòng 20 pips. Dựa vào biểu đồ này, bạn có thể đưa ra liệu đâu là xu hướng chính của cặp ngoại tệ này hay không?

Tiếp theo, chúng ta sẽ cùng so sánh biểu đồ 5 phút ở trên với biểu đồ dài hạn hơn D1 trong cùng cặp ngoại tệ USD/JPY. Từ biểu đồ ngày D1 ở dưới, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, cặp ngoại tệ này đang có xu hướng tăng lên. Chúng ta có thể nhận biết được rõ ràng hơn khi chúng ta có thêm nhiều dữ liệu hơn về thị trường, cái mà rất khó thực hiện ở biểu đồ ngắn hạn như M5.


Tại sao khung giờ ngắn thường có nhiều nhiễu tạp? (chúng ta xem rằng khung giờ dưới 1h sẽ là khung giờ ngắn hạn)

Chúng ta đơn giản so sánh biểu đồ M5 và H1 sẽ chỉ ra cho chúng ta thấy biểu đồ ngắn hạn có nhiều tín hiệu sai, bởi vì trong biểu đồ M5 sẽ có nhiều sự biến động giá vô nghĩa so với biểu đồ H1. Chúng ta không thể thấy được những tín hiệu xác định mạnh mẽ nếu chỉ quan sát trong 5 hoặc 15 phút bởi vì chúng ta sẽ đón nhận những tín hiệu không được rõ ràng. Nhưng khi quan sát những biểu đồ H1, H4 hay biểu đồ dài hạn hơn, chúng ta sẽ có được những tín hiệu định hướng rõ ràng hơn.

Ví dụ, trong biểu đồ dưới đây, chúng ta có thể xem sự biến động giá trong biểu đồ M5 của cặp EUR/USD. Chúng ta có thể thấy được rằng có nhiều tín hiệu nhưng nó mang đến cho bạn nhiều rủi ro hơn là cơ hội để kiếm lợi nhuận. Điều này mô tả một cách rõ ràng rằng khi càng có nhiều tín hiệu ở trong các biểu đồ ngắn, không có nghĩa rằng nó đem đến cho bạn nhiều lợi nhuận mà có thể ngược lại.


Tiếp theo, chúng ta sẽ quan sát biểu đồ giá EUR/USD trong cùng một khoảng thời gian ở biểu đồ M5 trên nhưng trong khung thời gian H1. Điều đầu tiên chúng ta ngay lập tức nhận thấy là sẽ xuất hiện ít điểm vào lệnh sai hơn và có nhiều điểm vào lệnh hợp lý hơn. Đó là bởi vì trong biểu đồ H1 có ít tín hiệu sai hơn và lọc bỏ được nhiều “tín hiệu nhiễu” hơn so với biểu đồ M5.


Khung thời gian ngắn hạn đòi hỏi nhiều sự theo dõi hơn
Liệu bạn có thể kiểm tra thị trường mỗi 5 phút hay mỗi 4 tiếng đồng hồ hay không? Với biểu đồ càng dài hạn, bạn sẽ càng ít phải kiểm tra thị trường. Nếu bạn là người có công việc toàn thời gian, bạn đơn giản sẽ không có nhiều thời gian để luôn ngồi trên máy tính cả ngày để cố gắng giao dịch trong khung thời gian M5. Nó cũng sẽ gây ra cho bạn nhiều căng thẳng, vì vậy sẽ không hợp lý để thử và giao dịch bằng scalping.

Khung thời gian ngắn hạn thường gây ra over-trading
Over-trading được biết như là những giao dịch mà bạn không có được những dấu hiệu rõ ràng, hoặc bạn giao dịch quá nhiều nhưng không đặt ra mục tiêu cụ thể. Có thể nói rằng, giao dịch trong những biểu đồ ngắn hạn như M5 và M15 là một trong những lý do chính tại sao các traders đặt lệnh liên tục.

Nếu chúng ta chỉ chăm chú nhìn vào biểu đồ M5 cả ngày, tỷ lệ bạn không vào lệnh thật sự sẽ rất thấp. Là con người, chúng ta đấu tranh với sự tự kiểm soát và tự kỷ luật, đặc biệt là khi chúng ta đặt mình trực tiếp vào “lĩnh vực của sự cám dỗ”. Tuy nhiên, chúng ta có thể lường trước được và tránh được những cám dỗ nếu chúng ta đặt tâm trí của mình vào nó.
Do đó, bạn nên có một kế hoạch khác biệt, không như số đông nhà giao dịch thua lỗ - những người liên tiếp tìm kiếm những giao dịch trong khung thời gian ngắn. Hãy kiên nhẫn, tốt nhất nên giao dịch trong khung thời gian dài hạn (H1, H4, hay D1 là những khung thời gian khá phổ biến) và xem liệu giao dịch của bạn có được cải thiện không.


15 tháng 5, 2013

Lý thuyết sóng Elliott cổ điển - Phần 3

Phần 03: Quy tắc của các mô hình sóng Elliott cơ bản

1. Tâm lý thị trường theo các bước sóng Elliott

Để hiểu hoàn toàn lý thuyết sóng Elliott thì cần phải hiểu tâm lý thị trường tại mỗi bước sóng kể từ khi dao động giá zigzag thể hiện những thay đổi theo tâm lý lạc quan hay bi quan của nhà đầu tư.

Dưới đây là phân tích tích tâm lý mô hình 8 sóng điển hình của thị trường đầu cơ giá lên (bull market). Trong thị trường đầu cơ giá xuống (bear market) thì phân tích ngược lại:

27 tháng 2, 2013

Gold - Các trường hợp theo sóng trong trung hạn

Sau phiên giao dịch ngày 26/02/2013, có thể thấy những phát biểu của chủ tịch FED Ben Bernake là yếu tố quan trọng nhất giúp vàng vượt xa mốc quan trọng 1600usd/oz, giá vàng thế giới đã chạm mốc 1619usd/oz bất chấp nhưng tín hiệu kinh tế khả quan công bố vào tối hôm qua như niềm tin tiêu dùng và doanh số nhà. Điều đó có nghĩa là buổi điều trần tối nay vẫn sẽ thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và quyết định đến xu hướng thị trường trong thời gian Tổng thống Obama vẫn đang nỗ lực cho việc chạy đua để giúp nước Mỹ tránh khỏi "thảm hoạ mới" từ việc cắt giảm chi tiêu công sắp đến hạn vào thứ 6 tuần này 01/03/2013.

Về phân tích kĩ thuật, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường, sau đây là một số trường hợp về thị trường trong trung hạn . Chúng ta sẽ xét trong khung thời gian từ đầu tháng 10 cho đến hiên tại (xét khả năng xảy ra trong hơn 1 tháng rưỡi tới)

Trường hợp 1: Sóng 5? Như trên biểu đồ vàng, vào tối qua, giá vàng đã có phiên tăng giá thứ 4 liên tiếp sau khi chạm mốc 1555usd/oz thấp nhất trong vòng hơn 7 tháng qua và đã đạt mức giá 1619.75usd/oz, chạm mức Fibo 50% (như hình vẽ). Như trong hình, có thể thấy, giá vàng đã tạo ra các bước sóng đầy đủ theo nguyên tắc đếm sóng, và hiện tại theo trường phái đếm sóng xuống, rất có thể giá đang hình thành xong con sóng 5 và đạt mốc 1534usd/oz trong vài ngày tới và điểm sell hợp lý sẽ là dưới 1635usd/oz


Trường hợp 2: Sóng 3 chưa hoàn thành?

Theo biểu đồ Weekly, có thể thấy sóng giảm của vàng vẫn đang còn chiếm ưu thế, và mốc có thể chạm tới là 145x - 143x usd/oz


Biểu đồ D1: Nếu như trong trường hợp 1 thì sẽ không hợp lý với lý thuyết sóng (sóng 3 là sóng dài nhất) vì vậy có thể dự báo giá vàng đang trong giai đoạn hoàn thành sóng 3 giảm và có thể đạt vùng 153x và đi nốt sóng 5 để giảm về 14xx usd/oz





Trường hợp 3: Sóng tăng trở lại??? 

Theo trường phái sóng lên, chúng ta có thể thấy sóng xuống cũng đã đủ năm bước sóng khá đều và có khả năng sẽ trở lại bước sóng điều chỉnh  A - B - C (hình vẽ) và trước mắt sẽ tiếp cận vùng 1628 - 1635 và tiếp bước sóng tiếp theo là các mốc 1660 và 171x usd/oz. Tuy nhiên cần phá các mức cản quan trọng như 1623, 1638 trước khi đạt những mục tiêu tiếp theo.


Tổng kết: Như đã nêu trên, trong thời điểm hiện tại, nhưng phát biểu của chủ tịch FED đang dẫn dắt thị trường và các nhà đầu tư không nên giao dịch trước thời điểm các thông tin chính thức được công bố. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những động thái gần đây và các nhà đầu tư đang ủng hộ thị trường giá lên trong trung hạn.

25 tháng 2, 2013

Lý thuyết sóng Elliott cổ điển - Phần 3


LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA NGUYÊN LÝ SÓNG ELLIOTT

Phần 3: Quy tắc của các mô hình sóng Elliott cơ bản


1. Tâm lý thị trường theo các bước sóng Elliott


Để hiểu hoàn toàn lý thuyết sóng Elliott thì cần phải hiểu tâm lý thị trường tại mỗi bước sóng kể từ khi dao động giá zigzag thể hiện những thay đổi theo tâm lý lạc quan hay bi quan của nhà đầu tư.

Dưới đây là phân tích tích tâm lý mô hình 8 sóng điển hình của thị trường đầu cơ giá lên (bull market). Trong thị trường đầu cơ giá xuống (bear market) thì phân tích ngược lại.

Sóng chủ số 1: Đợt sóng đầu tiên này có điểm xuất phát từ thị truờng đầu cơ giá xuống (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu. Lúc này thông tin cơ bản vẫn đang là thông tin tiêu cực. Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn là thị truờng suy thoái. Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng. Tuy vậy việc tăng giá này là không đáng kể. Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này.

Sóng chủ số 2: Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan. Thị trường đi xuống ở cuối sóng 2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường. Những người theo xu thế đầu cơ giá xuống vẫn đang tin rằng thị trường theo xu hướng đầu cơ giá xuống vẫn đang ngự trị. Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1. Giá sẽ được điều chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.

Sóng chủ số 3: Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng tăng giá. Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà đầu tư không kịp chuẩn bị để mua vào. Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực. Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh. Điểm cao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1.618 hoặc thậm chí là 261.8%.


Sóng chủ số 4: Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh. Giá có khuynh hướng đi xuống và đôi khi có thể tạo kiểu răng cưa kéo dài. Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3. Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn khối lượng giao dịch của sóng 3. Đây là thời điểm để mua vào nếu như nhà đầu tư nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó của con sóng 5. Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóng Elliott.

Sóng chủ số 5: Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ”. Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế đầu cơ giá lên. Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn, tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3. Điều đáng nói là những nhà đầu tư “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5. Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng. Điểm cao nhất của sóng 5 cao hơn điểm cao nhất của sóng 3 với tỷ lệ 161.8%.

Sóng điều chỉnh A: Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A – B - C. Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan. Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà đầu tư vẫn cho rằng thị trường đang trong xu thế đầu cơ giá lên. Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A. Sóng A thường hoàn lại từ 38.2% đến 61.8% so với sóng 5.

Sóng điều chỉnh B: Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A. Sóng B được xem là điểm kéo dài của thị trường đầu cơ giá lên. Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của mô hình đồ thị Đầu và Vai. Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn sóng A. Vào lúc này, những thông tin cơ bản không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực. Sóng B thường hoàn lại từ 38.2% đến 61.8% so với sóng A. 

Sóng điều chỉnh C: Giá có khuynh hướng giảm nhanh hơn các đợt sóng trước. Khối luợng giao dịch tăng. Hầu như tất cả mọi nhà đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của xu thế đầu cơ giá xuống trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C. Sóng C thường lớn như sóng A hoặc cũng thường mở rộng 1.618 lần so với sóng A hoặc hơn.

2. Các quy tắc đếm sóng Elliott:

- Quy tắc 1: Sóng 2 không bao giờ hoàn lại 100% so với sóng 1. Nói cách khác, sóng 2 không nên vượt qua điểm khởi đầu sóng 1.

 


- Quy tắc 2: Sóng 4 không bao giờ hoàn lại 100% so với sóng 3. Nói cách khác, sóng 4 không nên vượt qua điểm khởi đầu sóng 3.



- Quy tắc 3: Sóng 4 không bao giờ nằm dưới đỉnh của sóng 1.


 

- Quy tắc 4: Trong các sóng 1-3-5 thì sóng 3 luôn luôn là sóng dài nhất. 





09 tháng 1, 2013

Lý thuyết sóng Elliott cổ điển - Phần 1,2


LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)


Lời mở đầu: Lý thuyết sóng Elliott là một phân nhánh rất phức tạp và cũng rất lý thú trong phân tích kỹ thuật. Để am hiểu nó thì cần phải có phương pháp nghiên cứu khoa học.

Nội dung chương lý thuyết sóng Elliott bao gồm các phần sau:

(1) Giới thiệu chung về lý thuyết sóng Elliott

(2) Lý thuyết cơ bản

(3) Phân tích chi tiết các mô hình sóng Elliott

(4) Phương pháp vẽ kênh giá và kết hợp tỷ lệ Fibonacci trong lý thuyết sóng Elliott.



PHẦN 1:Giới thiệu chung về lý thuyết sóng Elliott

Nguyên lý sóng Elliott được Ralph Nelson Elliott khám phá vào thập niên 1930. Thời đó ông Elliott đã nhận thấy rằng các thị trường chứng khoán không hành xử trong một kiểu hỗn loạn nào cả mà dao động trong một trật tự nhất định theo những chu kỳ có tính lặp lại, phản ánh những hành động và cảm xúc của con người được gây ra bởi những ảnh hưởng bên ngoài hoặc tâm lý đám đông.


Elliott giải thích rằng sự dao động lên hay xuống của tâm lý đám đông luôn luôn cho thấy những mô hình lặp đi lặp lại giống nhau theo các phân đoạn khác nhau cái mà sau đó, khi phân chia các phân đoạn đó ông đã đặt cho nó cái tên là “các bước sóng” nhờ đó Elliott đã khám phá bản chất phân đoạn của hành động thị trường. Ông đã có thể phân tích các thị trường một cách chuyên sâu hơn, nhận diện những đặc trưng riêng biệt của những mô hình sóng đồng thời đưa ra những dự báo thị trường chi tiết dựa vào những mô hình sóng mà ông nhận diện.
Sự phân đoạn là những cấu trúc toán học trên một phạm vi thậm chí nhỏ song hoàn toàn tự lặp lại. Những mô hình mà Elliott khám phá được xây dựng theo cùng phương pháp. Chẳng hạn mô hình sóng chủ (impulsive wave) thường đi theo xu hướng chính luôn thể hiện 5 bước sóng trong mô hình của nó. Trong một phạm vi nhỏ hơn thì mỗi một bước sóng chủ trong mô hình sóng chủ đó lại chứa 5 bước sóng nhỏ. Trong mô hình sóng nhỏ này thì nó cũng tự lặp lại kiểu các bước sóng. Đó là hiện tượng sóng trong sóng.



Chỉ khá lâu sau thì sự phân đoạn mới được các nhà khoa học thừa nhận. Vào thập niên 1980, nhà khoa học Mandelbrot đã chứng minh sự tồn tại của sự phân đoạn trong cuốn sách “Hình học phân đoạn của tự nhiên” của ông. Mandelbrot đã thừa nhận cấu trúc phân đoạn trong nhiều đối tượng và hình thái sự sống, một hiện tượng mà Elliott đã hiểu vào thập niên 1930.

Vào thập niên 1970, Nguyên lý sóng Elliott đã giành được sự phổ biến nhờ công trình nghiên cứu của Frost và Prechter. Họ đã xuất bản một cuốn sách nổi tiếng về sóng Elliott (một cẩm nang không thể thiếu đối với mọi học viên sóng Elliott). Cuốn sách đó có tên là: “Nguyên lý sóng Elliott, chìa khóa mang lại lợi nhuận trong thị trường chứng khoán”, được xuất bản vào năm 1978. Trong cuốn sách hai ông đã dự báo vào giữa cuộc khủng hoảng trong thập niên 1970 thì sẽ báo hiệu cho thị trường đầu cơ giá lên mạnh mẽ vào thập niên 1980. Không chỉ họ đã dự báo chính xác mà chính Robert R. Prechter cũng dự báo về sự suy sụp của thị trường chứng khoán Mỹ năm 1987 một cách rất chính xác.


Sau nhiều năm nghiên cứu thì Elliott đã biết được cách vận dụng những mô hình sóng vào thị trường chứng khoán, bên cạnh đó ông cũng kết hợp dự báo theo tỷ lệ Fibonacci. Những điều ông nghiên cứu đã được xuất bản trong vài cuốn sách đã đặt nền móng cho những người như Bolton, Frost và Prechter mà nhờ đó họ đã có những dự báo đem lại lợi nhuận không chỉ trong các thị trường chứng khoán mà tất cả các thị trường khác.

Chúng ta là những người đi sau, được diễm phúc tiếp thu những tinh hoa của các bậc tiền bối. Tại sau chúng ta không từng bước nghiên cứu và vận dụng những tinh hoa đó vào thực tiễn? Và chúng ta có thể vận dụng linh hoạt hơn, sáng tạo hơn để kinh nghiệm của cha ông khi bị mai một mà ngày càng phong phú hơn theo thời gian.


Phần 02: CÁC MÔ HÌNH SÓNG ELLIOTT CƠ BẢN

Nội dung lý thuyết cơ bản của nguyên lý sóng Elliott bao gồm 2 phần: (1) Các mô hình sóng cơ bản và (2) Quy tắc của các mô hình sóng cơ bản. Ở bài 02 xin giới thiệu về các mô hình sóng cơ bản.

1. Mô hình 5 sóng – mô hình 3 sóng – mô hình 8 sóng:

Theo ông Elliott, sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng theo như hình vẽ dưới đây:

 

Trong đó một mô hình sóng cơ bản sẽ có 5 sóng chủ (impulsive Sóng) được đánh số theo số đếm 1-2-3-4-5 và 3 sóng điều chỉnh (corrective Sóng) được đánh số theo chữ cái A-B-C. Trong 5 sóng chủ thì sóng số 1, 3 và số 5 gọi là sóng “chủ và động” (motive Sóng), và sóng 2, 4 gọi là sóng “chủ và điều chỉnh” (corrective Sóng). Trong mỗi một con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ và cũng tuân theo quy luật của lý thuyết sóng Elliot. Một đợt sóng chủ hòan chỉnh sẽ có 89 sóng và đợt sóng điều chỉnh hoàn chỉnh sẽ có 55 sóng.

Tựu trung lại thì mô hình 8 sóng hoàn chỉnh tạo thành cấu trúc sóng Elliott điển hình. Mô hình đó có thể đi theo chiều tăng dần (ascending) trong thị trường đầu cơ giá lên (bull market) hoặc theo chiều giảm dần (descending) trong thị trường đầu cơ giá xuống. Nếu xu hướng chính là đi lên thì chúng ta sẽ thấy 5 bước sóng chạy lên theo sau là 3 bước sóng chạy xuống. Nếu xu hướng chính là xuống thì chúng ta sẽ thấy 5 bước sóng chạy xuống theo sau là 3 bước sóng chạy lên điều chỉnh xu hướng chính.

Ralph Nelson Elliott khẳng định rằng ông nghiên cứu và phát minh ra lý thuyết sóng truớc khi biết Fibonacci nhưng những con số trùng hợp đến kỳ lạ: 5 sóng chủ, 3 sóng điều chỉnh, 89 sóng chủ, 55 sóng điều chỉnh cũng như tỷ lệ giá của các con sóng luôn ở chung quanh các tỷ lệ vàng 0.618, 1.618, 0.328. Do đó có một giá thuyết khác cho rằng Ông Elliott đã ứng dụng những con số Fibonacci vào lý thuyết của mình.

2. Các cấp độ sóng Elliott:

Tùy theo thời gian mà độ lớn của sóng sẽ được phân theo thứ tự sau:

Grand Supercycle: cấp độ sóng siêu chu kỳ lớn, sóng kéo dài nhiều thập kỷ, đôi khi cả thế kỷ.

Supercycle: cấp độ sóng siêu chu kỳ kéo dài từ vài năm đến vài thập kỷ.

Cycle: cấp độ sóng chu kỳ kéo dài từ 1 đến vài năm.

Primary: cấp độ sóng xu hướng chính kéo dài từ vài tháng đến 2 năm.

Intermediate: cấp độ sóng xu hướng trung hạn kéo dài từ vài tuần đến vài tháng.

Minor: cấp độ sóng con kéo dài trong vài tuần.

Minute: cấp độ sóng nhỏ kéo dài trong vài ngày.

Minuette: cấp độ sóng rất nhỏ kéo dài trong vài giờ.

Subminutte: cấp độ sóng siêu nhỏ kéo dài trong vài phút.

Một sóng chủ theo sau là một sóng điều chỉnh hình thành một cấp độ sóng Elliott, bao gồm xu hướng (trend) và sự điều chỉnh xu hướng (counter-trend).

Hình minh họa dưới đây cho thấy sự khác nhau giữa một xu hướng (sóng chủ) và một quá trình điều chỉnh xu hướng (dao động giá dập dềnh với các bước sóng chồng chéo). Nó cũng cho thấy các xu hướng lớn hơn bao gồm nhiều xu hướng nhỏ hơn và sự điều chỉnh nhỏ hơn song kết quả thì luôn luôn giống nhau.


 
Điều quan trọng khi hiểu nguyên tắc sóng Elliott là khái niệm cơ bản cho rằng các cấu trúc sóng ở cấp độ lớn hơn bao gồm những sóng con nhỏ hơn và lần lượt những sóng đó bao gồm những sóng thuộc cấp độ thấp hơn. Elliott phân biệt 9 cấp độ sóng dao động thời gian từ 2 thế kỷ cho đến vài phút như hình minh họa dưới đây.

03 tháng 1, 2013

Tổng hợp một số mẫu hình đồ thị chuyên biệt - Chart Patterns


Mô hình Adam & Adam Double Bottoms (Mô hình hai đáy Adam)

Mô hình Adam & Eve Double Bottoms (Mô hình hai đáy Adam-Eve)

Mô hình Ugly Double Bottoms (Mô hình hai đáy xấu xí)

Mô hình Eve & Eve Double Tops (Mô hình hai đỉnh Eve)

Mô hình Eve & Adam Double Tops (Mô hình hai đỉnh Eve-Adam)

Mô hình Adam & Adam Double Tops (Mô hình hai đỉnh Adam)

Mô hình Adam & Eve Double Tops (Mô hình hai đỉnh Adam-Eve)

NHÓM CÁC MÔ HÌNH ĐÁY – ĐỈNH CHUYÊN BIỆT

Mô hình Triple Bottoms (Mô hình 3 đáy)

Mô hình Triple Tops (Mô hình 3 đỉnh)

Mô hình Head & Shoulders Bottoms (Mô hình 3 đáy vai-đầu-vai)

Mô hình Complex Head & Shoulders Bottoms (Mô hình đáy vai-đầu-vai phức hợp)

Mô hình Head & Shoulders Tops (Mô hình 3 đỉnh vai-đầu-vai)

Mô hình Complex Head & Shoulders Tops (Mô hình đỉnh vai-đầu-vai phức hợp)

Mô hình Rounding Bottoms (Mô hình đáy bầu)

Mô hình Rounding Tops (Mô hình đỉnh bầu)

Mô hình Horn Bottoms (Mô hình đáy sừng)

Mô hình Horn Tops (Mô hình đỉnh sừng)

Mô hình Pipe Bottoms (Mô hình đáy hình ống dẫn)

Mô hình Pipe Tops (Mô hình đỉnh hình ống dẫn)

Mô hình Rectangle Bottoms (Mô hình đáy hình chữ nhật)

Mô hình Rectangle Tops (Mô hình đỉnh hình chữ nhật)


NHÓM CÁC MÔ HÌNH CHUYÊN BIỆT KHÁC 


Mô hình Bump and Run Reserval (BARR)

Mẫu hình upside-gap two crows

Three Black Crows - Mẫu hình nến ba con quạ đen

Những mẫu hình đảo chiều (Reversal) và mẫu hình tiếp tục (continues)