03 tháng 1, 2013

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 32 - Mô hình đồ thị hình chữ nhật (Rectangle) và Mô hình đồ thị Chiếc cốc và Tay cầm (Cup and Handle)


Bài 32

 Mô hình đồ thị hình chữ nhật (Rectangle) và Mô hình đồ thị Chiếc cốc và Tay cầm (Cup and Handle) 

I. Mô hình đồ thị hình chữ nhật (Rectangle)
Mô hình đồ thị hình chữ nhật (Rectangle) là một dạng mô hình tiếp tục xu hướng của thị trường, nó trông giống như trong một kênh giao dịch cho đến cuối của xu hướng biến động giá hàng hóa. Hình mẫu kỹ thuật này có thể được nhận biết một cách rõ ràng thông qua hai đường nối các đỉnh và các đáy trong xu hướng biến động giá hàng hóa. Đường nối các đỉnh và các đáy của xu hướng biến động giá tạo thành đỉnh và đáy của hình chữ nhật. Những hình chữ nhật đôi khi được xem như những khung giao dịch, những khu vực củng cố hoặc bế tắc trong sự biến động của giá hàng hóa. 


Có nhiều sự tương đồng giữa mô hình Rectangle và mô hình Symmetrical Triangle (tam giác cân), trong khi cả hai đều là những hình mẫu kỹ thuật tiếp tục xu hướng của thị trường, chúng đều mang lại những thông tin khá quan trọng đó là dự báo những đỉnh và đáy của xu hướng. Cũng như với hình mẫu kỹ thuật tam giác cân, hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật chỉ hoàn thiện cho tới khi điểm phá vỡ (breakout) xuất hiện. Thỉnh thoảng những tín hiệu sớm có thể được nhận biết, nhưng thường thì dấu hiệu "breakout" khó có thể xác định trước một cách sớm và chính xác. Rectangle có thể diễn ra trong một vài tuần hoặc trong vài tháng, thông thường thì hình mẫu này diễn ra trong khoảng ba tuần, trong trường hợp lý tưởng Rectangle có thể diễn ra trong khoảng ba tháng, nói chung những dấu hiệu "breakout" do những Rectangle diễn ra trong thời gian dài thường tin cậy hơn những dấu hiệu "breakout" được mang lại bởi những Rectangle diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn.

Mô hình Rectangle có 2 dạng: Bullish Rectangle (mô hình hình chữ nhật tiếp tục xu hướng tăng giá xuất hiện trong một xu hướng tăng giá) và Bearish Rectangle (mô hình hình chữ nhật tiếp tục xu hướng giảm giá xuất hiện trong một xu hướng giảm giá).

Chiến lược giao dịch đối với mô hình này chính là vào trạng thái mua (theo mô hình Bullish Rectangle) hoặc bán (theo mô hình Bearish Rectangle) tại điểm phá vỡ/điểm xuyên phá và bổ sung trạng thái khi giá test lại đường kháng cự cũ hoặc đường hỗ trợ cũ. Mục tiêu chốt lời được ước tính bằng cách cộng chiều cao mô hình với mức giá tại điểm phá vỡ.

II. Mô hình đồ thị Chiếc cốc và Tay cầm (Cup and Handle) 

Mô hình Cup & Handle (chiếc cốc và tay cầm) xuất hiện khi thị trường đang trong xu hướng tăng giá và nó củng cố xu hướng đó của thị trường. Mô hình này gồm hai phần: phần “cốc” và phần cái “tay cầm”. Về lý thuyết lý tưởng thì mô hình “cốc” kéo dài trong 1 đến 6 tháng còn mô hình “tay cầm” kéo dài trong 1 đến 4 tuần. Phần cốc hình thành sau một đợt tăng giá của thị trường và có dạng đáy vòng xuống. Khi mô hình “cốc” hoàn thành một mô hình khung giao dịch sẽ tiếp tục hình thành ở phía bên phải và tạo nên cái “tay cầm”. Tuy nhiên trong thực tế điều lý tưởng hiếm xảy ra và vì thế nếu nhà đầu tư vận dụng mô hình để phân tích thị trường thì có thể vận dụng mô hình này ở đồ thị từ 4 giờ trở lên chứ không nhất thiết phải từ đồ thị ngày.

Thường thì tính củng cố của mô hình sẽ được đảm bảo hơn nếu xu hướng tăng giá ban đầu kéo dài trong vài tháng tức là đảm bảo nó không quá yếu. Cũng cần lưu ý với dạng của mô hình cốc: đáy của nó càng vòng càng tốt và nếu như nó quá nhọn và gần giống với chữ V thì rất dễ chuyển tính chất thành mô hình đảo chiều. Một mô hình cốc hoàn hảo sẽ có hai thành cốc cao ngang nhau, độ sâu của nó hoàn lại khoảng 1/3 hoặc ít hơn mức tăng giá trước đó, tất nhiên điều này ít khi xảy ra. Với thị trường có độ bất ổn lớn thì mức hoàn lại có thể trong khoảng 1/3 đến 2/3.

Mô hình “tay cầm” làm cho đợt gia tăng giá ở bên phải “cốc” ngừng lại và biến động nhỏ trong một khung giao dịch và có thể kéo lùi giá lại một chút so với thành “cốc”.Toàn bộ chiều cao của khung thường đạt mức 1/3 chiều cao “cốc”. "Breakout" xuất hiện sẽ phá vỡ mức kháng cự và tiếp tục xu thế tăng giá của thị trường.

Mục tiêu giá sau điểm breakdout thường bằng 10% đến 15% so với độ sâu của chiếc cốc.

Trong quá trình hình thành chiếc cốc hình chữ U thì đường chỉ báo volume cũng thường có hình dáng chữ U.


PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 31 - Mô hình đồ thị cờ hình chữ nhật giảm (Bearish Flag) - Mô hình đồ thị cờ hình chữ nhật tăng (Bullish Flag)


Bài 31

Mô hình đồ thị cờ hình chữ nhật giảm (Bearish Flag) -  Mô hình đồ thị cờ hình chữ nhật tăng (Bullish Flag)

I. Mô hình đồ thị cờ chữ nhật giảm ( Bearish Flag)
Mô hình Bearish Flag (mô hình lá cờ hình chữ nhật giảm) hình thành sau một đợt giảm giá có độ dốc thoai thoải hoặc gần như thẳng đứng. Nó được xem là một dấu hiệu giảm giá, cho thấy xu hướng giảm giá hiện tại có thể tiếp tục. Mô hình này bao gồm 2 đường xu hướng song song hình thành dạng lá cờ hình chữ nhật. Lá cờ có thể nằm ngang (như thể gió thổi nó tung bay), song nó thường có xu hướng hơi hướng lên nhưng đôi khi cũng có hướng chếch xuống.


 
Xu hướng giảm giá trước lá cờ được xem như là cán cờ (flagpole). Hình dạng lá cờ hình chữ nhật là sản phẩm mà các nhà phân tích kỹ thuật xem là sự tích lũy. Sự tích lũy này xảy ra khi giá dường như bật lên bật xuống giữa 2 giới hạn trên và dưới. Mô hình này phản ánh sự phản ứng của người đầu tư giá xuống sẵn sàng bán tại mức giá thấp và sự nhiệt tình của người đầu tư giá lên đẩy giá lên cao khi sẵn sàng mua tại mức giá khả thi nhất.
Dấu hiệu giảm giá (điểm xuyên phá - breakdown) xảy ra khi giá bật xuống dưới đường xu hướng hỗ trợ của mô hình và tiếp tục xu hướng giảm giá ban đầu.

Đặc trưng:

Bearish Flag rất giống với mô hình Bearish Pennant song ở mô hình Bearish Flag thì 2 đường xu hướng có xu thế chạy song song trong khi ở mô hình Bearish Pennant thì 2 đường xu hướng giá có xu thế hội tụ dần. Sự giảm giá xuống dưới đường xu hướng hỗ trợ có thể cho thấy sự tiếp tục xu hướng giảm giá.

Khi Bearish Flag phát triển thì khối lượng giao dịch có xu hướng giảm. Tuy nhiên có thể thấy sự tăng lên bất ngờ về khối lượng giao dịch ở cuối lá cờ.

Mô hình Bearish Flag có thể kéo dài ngắn nhất là 5 ngày hoặc dài thì 3 đến 5 tuần.

Chú ý: Trong một số trường hợp thì giá sẽ phá vỡ dao động giá ban đầu và tạo sự đảo chiều. Sự đảo chiều có thể được cảnh báo khi khối lượng giao dịch gia tăng, trái ngược với sự giảm khối lượng giao dịch thông thường điển hình hơn.

Mục tiêu giá: Thông thường chiều dài cán cờ (flagpole) ám chỉ đợt giảm giá có thể xảy ra, tức là sau lá cờ thì giá sẽ giảm tương đương với chiều dài cán cờ.
 II. Mô hình đồ thị cờ hình chữ nhật tăng (Bullish Flag)

Mô hình Bullish Flag (mô hình lá cờ hình chữ nhật tăng giá) hình thành sau một đợt tăng giá có độ dốc thoai thoải hoặc gần như thẳng đứng, bao gồm 2 đường xu hướng song song nhau tạo thành hình dáng lá cờ hình chữ nhật. Nó được xem là một dấu hiệu tăng giá, cho thấy xu hướng tăng giá hiện tại có thể tiếp tục. Lá cờ có thể nằm ngang (như thể gió thổi nó tung bay), song nó thường có xu hướng hơi hướng xuống nhưng đôi khi cũng có hướng chếch lên.



Xu hướng tăng giá trước lá cờ được xem như là cán cờ (flagpole). Hình dạng lá cờ hình chữ nhật là sản phẩm mà các nhà phân tích kỹ thuật xem là sự tích lũy. Sự tích lũy này xảy ra khi giá dường như bật lên bật xuống giữa 2 giới hạn trên và dưới. 
Dấu hiệu tăng giá (điểm phá vỡ - breakout) xảy ra khi giá bật lên trên đường xu hướng kháng cự của mô hình và tiếp tục xu hướng tăng giá ban đầu.

Đặc trưng:

Bullish Flag rất giống với mô hình Bullish Pennant song ở mô hình Bullish Flag thì 2 đường xu hướng có xu thế chạy song song trong khi ở mô hình Bullish Pennant thì 2 đường xu hướng giá có xu thế hội tụ dần. Sự bức phá của giá lên trên đường xu hướng kháng cự có thể cho thấy sự tiếp tục xu hướng tăng giá.

Khi Bullish Flag phát triển thì khối lượng giao dịch có xu hướng giảm. Tuy nhiên có thể thấy sự tăng lên bất ngờ về khối lượng giao dịch ở cuối lá cờ.

Mô hình Bullish Flag có thể kéo dài ngắn nhất là 5 ngày hoặc dài thì 3 đến 5 tuần.

Chú ý: Trong một số trường hợp thì giá sẽ phá vỡ dao động giá ban đầu và tạo sự đảo chiều. Sự đảo chiều có thể được cảnh báo khi khối lượng giao dịch gia tăng, trái ngược với sự giảm khối lượng giao dịch thông thường điển hình hơn.

Mục tiêu giá: Thông thường chiều dài cán cờ (flagpole) ám chỉ đợt tăng giá có thể xảy ra, tức là sau lá cờ thì giá sẽ tăng tương đương với chiều dài cán cờ.

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 30 - Mô hình đồ thị cờ hiệu giảm (Bearish Pennant) và Mô hình đồ thị cờ hiệu tăng (Bullish Pennant)

Bài 30

 Mô hình đồ thị cờ hiệu giảm (Bearish Pennant) và Mô hình đồ thị cờ hiệu tăng (Bullish Pennant) 

I. Mô hình đồ thị cờ hiệu giảm (Bearish Pennant)

Mô hình Bearish Pennant (Mô hình cờ hiệu giảm) được tìm thấy trong một xu hướng giảm giá. Mô hình này được xem là dạng tiếp tục xu hướng giảm giá với hành động giá trong biên độ hẹp theo sau một đợt giảm giá mạnh. Điểm bán về phương diện kỹ thuật nằm tại thời điểm khi giá nhô xuống dưới đường xu hướng hỗ trợ của khu vực tạo thành mô hình, về lý tưởng thì khối lượng giao dịch gia tăng tại điểm phá vỡ này.


Đợt giảm giá có khối lượng mạnh và hành động giá theo xu hướng giảm kéo dài hình thành nên dáng vẻ cột cờ (Flagpole) ngược. Thời gian còn lại và hành động giá đặc trưng với khối lượng lớn khi cường độ giảm bị gián đoạn tạm thời. Thực tế này hình thành dạng cờ đuôi nheo (cờ hiệu) cũng giống dạng mô hình tam giác cân (Symmetrical Triangle) nhỏ. Những điểm giá cao nhất và thấp nhất tạo thành đường kháng cự và đường hỗ trợ ngày càng hội tụ về điểm chóp nhọn của lá cờ.
Kỳ vọng điểm phá vỡ và mục tiêu giảm giá: Khi giá dao động hướng đến gần phần chóp nhọn lá cờ thì điểm xuyên phá (breakdown) xuất hiện khi giá đảo chiều sau khi chạm đường kháng cự và bức phá xuống dưới đường hỗ trợ và theo xu hướng giảm giá. Mục tiêu giảm giá được tính bằng khoảng tương đương với đợt giảm giá hình thành nên cột cờ.

II. Mô hình đồ thị cờ hiệu tăng (Bullish Pennant) 

Bullish Pennant (mô hình cờ hiệu tăng) đuợc xem là một dấu hiệu tăng giá báo hiệu xu hướng tăng giá hiện thời có thể tiếp tục. 

Bullish Pennant theo sau một đợt tăng giá có độ dốc cao và gồm 2 đường xu hướng hội tụ với nhau hình thành hình dáng cờ hiệu hẹp. Hình dáng lá cờ hiệu dường như nằm ngang.

Bullish Pennant cũng tương tự như mô hình Bullish Symmetrical Triangle hay Falling Wedge song Pennant thì ngắn hơn về thời gian hình thành.
Các đường xu hướng giá có xu thế hội tụ. Ở đầu Pennant thì giá tăng mạnh tạo đỉnh nhọn (spike) mà Phân tích kỹ thuật gọi là cán cờ (flagpole) và sau đó tính biến động giảm dần tạo ra hình dáng cờ hiệu có hình tam giác.Khi Pennant phát triển thì khối lượng giao dịch có xu thế giảm dần. 

Trong một số trường hợp giá sẽ phá vỡ dao động giá ban đầu và tạo sự đảo chiều xu hướng. Sự đảo chiều có thể được báo hiệu bằng sự gia tăng về khối lượng giao dịch. 

Thời gian kéo dài của mô hình phụ thuộc vào sự tích lũy giá. Sự tích lũy càng kéo dài thì thời gian hình thành mô hình càng lâu.

Thông thường thì chiều cao của cán cờ cho thấy khả năng mục tiêu của đợt tăng giá sau đó. Giống như Bullish Flag thì Bullish Pennant được xem là sự tạm ngừng trong một xu hướng tăng giá. Sau Pennant thì giá sẽ tăng tương đương với chiều cao của cán cờ.




PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 29 - Mô hình đồ thị tam giác hướng lên (Ascending Triangle) và Mô hình đồ thị tam giác hướng xuống (Descending Triangle)


Bài 29

 Mô hình đồ thị tam giác hướng lên (Ascending Triangle) và Mô hình đồ thị tam giác hướng xuống (Descending Triangle)

I. Mô hình đồ thị tam giác hướng lên (Ascending Triangle)
Mô hình Ascending Triangle (mô hình đồ thị tam giác hướng lên) là mô hình đồ thị tăng giá thường hình thành trong một xu hướng tăng giá với vai trò là mẫu đồ thị tiếp tục xu hướng. Có một số trường hợp Ascending Triangle có vai trò đảo chiều khi xuất hiện tại cuối xu hướng giảm giá nhưng điển hình là dạng tiếp tục xu hướng. Dù theo dạng nào thì Ascending Triangle cũng là dạng đồ thị tăng giá thể hiện sự tích lũy.

Cần 2 hoặc nhiều điểm đỉnh (high) bằng nhau để tạo thành đường xu hướng nằm ngang phía trên và cần 2 hoặc nhiều điểm đáy (low) để tạo thành đường xu hướng hỗ trợ chạy lên và hội tụ với đường xu hướng kháng cự nằm ngang. Nếu 2 đường này kéo rộng về bên phải thì đường hỗ trợ chạy lên có vai trò là cạnh huyền của tam giác vuông. Nếu một đường thẳng được vẽ vuông góc với đầu bên trái của đường kháng cự nằm ngang thì một tam giác vuông sẽ hình thành.
Dưới đây là những yếu tố cần thiết của mô hình Ascending Triangle:

(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình Ascending Triangle:
Để đảm bảo tiêu chuẩn thì một xu hướng rõ ràng cần tồn tại và xu hướng này ít nhất kéo dài vài tháng, từ đó mô hình Ascending Triangle đánh dấu giai đoạn tích lũy trước khi tiếp tục xu hướng sau điểm phá vỡ (breakout).

(2) Đường xu hướng kháng cự nằm ngang: Có ít nhất 2 điểm đỉnh (high) để hình thành đường xu hướng kháng cự nằm ngang. Những điểm này không yêu cầu bằng nhau tuyệt đối mà chỉ cần xấp xỉ là được. 



(3) Đường xu hướng hỗ trợ hướng lên: Có ít nhất 2 điểm đáy (low) cần thiết để hình thành đường xu hướng hỗ trợ hướng lên. Những điểm này lần luợt cao dần và có một khoảng cách nhất định giữa chúng.

(4) Thời gian phát triển mô hình: Thời gian phát triển mô hình có thể dao động từ vài tuần đến vài tháng mà điển hình là 1 đến 3 tháng.

(5) Khối lượng giao dịch: Khi mô hình phát triển thì khối lượng giao dịch thường giảm dần. Khi điểm phá vỡ (breakout) theo chiều hướng đi lên xuất hiện thì có sự mở rộng khối lượng giao dịch để xác nhận điểm phá vỡ.

(6) Sự hồi lại điểm phá vỡ: Một quy tắc cơ bản của phân tích kỹ thuật là mức kháng cự trở thành mức hỗ trợ mới và ngược lại. Khi đường kháng cự nằm ngang của tam giác hướng lên bị phá vỡ thì nó trở thành đường hỗ trợ. Đôi khi giá hồi trở lại đường hỗ trợ mới này trước khi dao động mạnh theo chiều hướng lên

(7) Mục tiêu giá: Một khi điểm phá vỡ xuất hiện thì mục tiêu giá được tính bằng cách đo khoảng cách rộng nhất của mô hình rồi cộng với mức giá tại điểm phá vỡ.

II. Mô hình đồ thị tam giác hướng xuống (Descending Triangle)

Mô hình Descending Triangle (mô hình đồ thị tam giác hướng xuống) là mô hình đồ thị giảm giá thường hình thành trong một xu hướng giảm giá với vai trò là mẫu đồ thị tiếp tục xu hướng. Có một số trường hợp Descending Triangle có vai trò đảo chiều khi xuất hiện tại cuối xu hướng tăng giá nhưng điển hình là dạng tiếp tục xu hướng. Dù theo dạng nào thì Descending Triangle cũng là dạng đồ thị giảm giá thể hiện sự tích lũy.

Cần 2 hoặc nhiều điểm đáy (low) bằng nhau để tạo thành đường xu hướng nằm ngang phía dưới và cần 2 hoặc nhiều điểm đỉnh (high) thấp dần để tạo thành đường xu hướng kháng cự chạy xuống và hội tụ với đường xu hướng hỗ trợ nằm ngang. Nếu 2 đường này kéo rộng về bên phải thì đường kháng cự chạy xuống có vai trò là cạnh huyền của tam giác vuông. Nếu một đường thẳng được vẽ vuông góc với đầu bên trái của đường hỗ trợ nằm ngang thì một tam giác vuông sẽ hình thành.

Dưới đây là những yếu tố cần thiết của mô hình Descending Triangle:

(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình Descending Triangle:
Để đảm bảo tiêu chuẩn thì một xu hướng rõ ràng cần tồn tại và xu hướng này ít nhất kéo dài vài tháng, từ đó mô hình Descending Triangle đánh dấu giai đoạn tích lũy trước khi tiếp tục xu hướng sau điểm phá vỡ (breakout).

(2) Đường xu hướng hỗ trợ nằm ngang: Có ít nhất 2 điểm đáy (low) để hình thành đường xu hướng hỗ trợ nằm ngang. Những điểm này không yêu cầu bằng nhau tuyệt đối mà chỉ cần xấp xỉ là được. 


 

(3) Đường xu hướng kháng cự hướng xuống: Có ít nhất 2 điểm đỉnh (high) cần thiết để hình thành đường xu hướng kháng cự hướng xuống. Những điểm này lần luợt thấp dần và có một khoảng cách nhất định giữa chúng. 

(4) Thời gian phát triển mô hình: Thời gian phát triển mô hình có thể dao động từ vài tuần đến vài tháng mà điển hình là 1 đến 3 tháng.

(5) Khối lượng giao dịch: Khi mô hình phát triển thì khối lượng giao dịch thường giảm dần. Khi điểm phá vỡ (breakout) theo chiều hướng đi xuống xuất hiện thì có sự mở rộng khối lượng giao dịch để xác nhận điểm phá vỡ.

(6) Sự hồi lại điểm phá vỡ: Một quy tắc cơ bản của phân tích kỹ thuật là mức hỗ trợ trở thành mức kháng cự mới và ngược lại. Khi đường hỗ trợ nằm ngang của tam giác hướng xuống bị phá vỡ thì nó trở thành đường kháng cự mới. Đôi khi giá hồi trở lại đường kháng cự mới này trước khi dao động mạnh theo chiều hướng xuống.

(7) Mục tiêu giá: Một khi điểm phá vỡ xuất hiện thì mục tiêu giá được tính bằng cách đo khoảng cách rộng nhất của mô hình rồi trừ với mức giá tại điểm phá vỡ.



PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 28 - Mô hình đồ thị tam giác đối xứng (Symmetrical Triangle)

Bài 28

 Mô hình đồ thị tam giác đối xứng (Symmetrical Triangle) 

Mô hình Symmetrical Triangle (tam giác đối xứng) là dạng mô hình đồ thị hàm chứa ít nhất 2 điểm đỉnh (high) giá thấp dần và 2 điểm đáy (low) giá cao dần. Khi những điểm đỉnh được nối với nhau và những điểm đáy được nối với nhau thì 2 đường xu hướng hội tụ dần và tạo dáng cho mô hình tam giác đối xứng, rộng ở phần đầu và hẹp dần qua thời gian.

Tuy ở một số trường hợp mô hình tam giác đối xứng đánh dấu sự đảo chiều quan trọng song thường xuyên đánh dấu sự tiếp tục xu hướng hiện thời. Dù bản chất mô hình là tiếp tục xu hướng hay đảo chiều thì chiều hướng của xu hướng tiếp theo chỉ có thể được quyết định sau một sự phá vỡ có hiệu lực. 

Dưới đây là những yếu tố cần thiết trong mô hình Symmetrical Triangle:

(1) Xu hướng trước khi hình thành mô hình Symmetrical Triangle:
Để đảm bảo tiêu chuẩn thì một xu hướng rõ ràng cần tồn tại và xu hướng này ít nhất kéo dài vài tháng, từ đó mô hình Symmetrical Triangle đánh dấu giai đoạn tích lũy trước khi tiếp tục xu hướng sau điểm phá vỡ (breakout).

(2) 4 điểm: Có ít nhất 2 điểm cần thiết để hình thành một đường xu hướng và có 2 đường xu hướng cần thiết để hình thành mô hình tam giác đối xứng. Do đó có ít nhất 4 điểm cần thiết để xem xét đến việc hình thành mô hình tam giác đối xứng. Điểm đỉnh thứ 2 cần ở mức giá thấp hơn điểm đỉnh thứ nhất và đường xu hướng kháng cự chạy xuống. Điểm đáy thứ 2 cần cao hơn điểm đáy thứ nhất và đường xu hướng hỗ trợ chạy lên. Về lý tưởng thì mô hình này hình thành từ 6 điểm (mỗi biên 3 điểm) trước khi điểm phá vỡ xuất hiện.


(3) Khối lượng giao dịch: Khi mô hình tam giác đối xứng mở rộng thì biên độ giao dịch hẹp dần, khối lượng giao dịch cũng bắt đầu giảm dần. Điều này ám chỉ sự im lắng trước khi bão táp xảy ra hay nói cách khác là sự tích lũy sâu sắc trước khi có sự phá vỡ.

(4) Thời gian phát triển: Mô hình tam giác có thể mở rộng trong vài tuần hoặc vài tháng. Nếu mô hình kéo dài dưới 3 tuần thì nó thường được xem là mô hình Pennant (mô hình đồ thị cờ đuôi nheo. Theo một mô hình điển hình thì thời gian phát triển khỏang 3 tháng.

(5) Thời gian điểm phá phá vỡ: Điểm phá vỡ lý tưởng xuất hiện tại ½ đến ¾ chặng đường phát triển mô hình. Khoảng thời gian phát triển mô hình có thể được đo từ phần đỉnh tam giác (apex: điểm hội tụ của 2 đường xu hướng tam giác) trở lại điểm khởi đầu đường xu hướng hỗ trợ (base). Sự phá vỡ trước mức ½ có thể chưa chín mùi và sự phá vỡ quá gần đỉnh (apex) có thể không có quan trọng. Xét cho cùng thì khi đỉnh tam giác sắp hình thành thì cần xuất hiện điểm phá vỡ.

(6) Hướng điểm phá vỡ: Hướng tương lai của điểm phá vỡ chỉ có thể được quyết định sau khi sự phá vỡ xảy ra. Việc phỏng đoán hướng của điểm phá vỡ được xem là nguy hiểm.

(7) Sự xác nhận điểm phá vỡ: Điểm phá vỡ được xem là hiệu lực dựa trên cơ sổ giá đóng cửa. Điểm phá vỡ xuất hiện cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, đặc biệt trong trường hợp phá vỡ theo chiều đi lên.

(8) Giá hồi trở lại đỉnh tam giác: Sau khi có điểm phá vỡ (chiều lên hoặc chiều xuống) thì điểm đỉnh tam giác (apex) có thể trở thành vùng hỗ trợ hoặc vùng kháng cự tương lai. Giá đôi khi hồi trở lại mức hỗ trợ hoặc kháng cự mới tại đỉnh tam giác trước khi tiếp tục theo hướng điểm phá vỡ.

(9) Mục tiêu giá: Có 2 phương pháp ước tính phạm vi dao động giá sau điểm phá vỡ. Cách thứ nhất là đo khoảng cách rộng nhất của tam giác đối xứng rồi cộng với mức giá tại điểm phá vỡ. Cách thứ 2 là vẽ một đường xu hướng song song với đường xu hướng chạy lên hoặc chạy xuống theo hướng của điểm phá vỡ. Sự mở rộng đường song song này sẽ đánh dấu mục tiêu tiềm năng sau điểm phá vỡ.