03 tháng 1, 2013

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 37 - FIBONACCI CHANNEL VÀ FIBONACCI CLUSTERS


BÀI 37

 FIBONACCI CHANNEL   FIBONACCI CLUSTERS

I. FIBONACCI CHANNEL


1. Khái quát về Fibonacci Channel

Fibonacci Channel(Kênh Fibonacci) được tạo nên bằng các đường xu hướng song song. Để xây dựng công cụ này, bề rộng của kênh được sử dụng là bề rộng đơn vị. Sau đó, các đường thẳng song song sẽ được vẽ tại các điểm giá trị tương ứng với dãy số Fibonacci, bắt đầu là 0.618 bề rộng đơn vị, sau đó là 1.000, 1.618, 2.618, 4.236 lần …

Nên nhớ rằng để dựng Kênh Fibonacci đúng thì phải dựa vào đường giới hạn tầm trên của kênh khi xu hướng tăng và tầm dưới của kênh khi xu hướng giảm.

2. Cách vẽ Fibonacci Channel

- Trong một xu hướng uptrend, chọn 2 điểm giá thấp nhất tại đường xu hướng hỗ trợ rồi vẽ công cụ Fibonacci Channel, điều chỉnh đường giới hạn tầm trên của Fibonacci Channel sẽ thấy các điểm Fibo 61.8%, 100.0%, 161.8%, … là những vùng kháng cự (Resistance) quan trọng.


- Trong một xu hướng downtrend, chọn 2 điểm giá cao nhất tại đường xu hướng kháng cự rồi vẽ công cụ Fibonacci Channel, điều chỉnh đường giới hạn tầm dưới của Fibonacci Channel sẽ thấy các điểm Fibo 61.8%, 100.0%, 161.8%, … là những vùng hỗ trợ (Support) quan trọng.

 

Chú ý: Đối với phần mềm Metatrader4, muốn vẽ Fibonacci Channel, hãy vào mục Channel rồi chọn Fibonacci để vẽ công cụ Fibonacci Channel. Các phần mềm Real-time của Netdania và Saxobank không có công cụ này.

II.  FIBONACCI CLUSTERS

1. Khái quát về Fibonacci Clusters:

Fibonacci Clusters(Nhóm Fibonacci) là sự kết hợp các mức hồi lại theo Fibonacci, được vẽ từ các mức cao nhất và thấp nhất khác nhau. 

Fibonacci Clustersđược sử dụng để chỉ báo về những vùng hỗ trợ và kháng cự quan trọng nhất. Sử dụng Fibonacci Clusters giúp quyết định khả năng đảo chiều xu hướng giá. Nó báo hiệu mức giá mà tại đó sự thay đổi về xu hướng có thể xảy ra. Fibonacci Clusters càng mạnh thì tính khả thi để một mứ giá là vùng hỗ trợ hoặc kháng cự cho xu hướng hiện tại càng cao.
2. Cách vẽ Fibonacci Clusters:

Trong một khung giao dịch có thể vẽ vài lần một công cụ Fibonacci (chẳng hạn Fibonacci Retracements) với các điểm High, Low được chọn khác nhau sẽ cho thấy kết quả các mức hỗ trợ hoặc kháng cự mạnh sẽ ứng với các mức Fibonacci mà những lần vẽ như thế đều có.
 


PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 36 - FIBONACCI ARCS và FIBONACCI TIME ZONES


BÀI 36

 FIBONACCI ARCS và  FIBONACCI TIME ZONES


I. FIBONACCI ARCS

1. Khái quát về Fibonacci Arcs:

Fibonacci Arcs(Fibonacci hình cung) được xem là công cụ tiềm năng để xác định các vùng hỗ trợ và kháng cự. Fibonacci Arcs là các cung có tỷ lệ dựa trên khoảng cách giữa 2 điểm giá cao nhất và thấp nhất. Do đó với khoảng cách giữa 2 điểm cao nhất và thấp nhất là 100 đơn vị thì Fibonacci Arcs 38.2% sẽ là cung bán nguyệt 31.8 đơn vị.
Để xây dựng Fibonacci Arcs, người sử dụng cần xác định 2 điểm cực đối nhau: điểm cao nhất (Swing High) và và điểm thấp nhất (Swing Low). Trước tiên một đường xu hướng được vẽ giữa 2 điểm cực này. Sau đó 3 đường cung sẽ được xây dựng với trung tâm là điểm cực thứ 2 và cắt đường xu hướng tại các mức Fibonacci 38.2%, 50.0% và 61.8%.
Các vòng cung này có chức năng như các vùng hỗ trợ hoặc kháng cự khi giá chạm đến chúng.

Thông thường sau khi giá phá vỡ một cung kháng cự chẳng hạn cung 50.0% thì giá dao động đến tỷ lệ Fibonacci kế tiếp là 61.8% nơi có vai trò là mức kháng cự mới. Mức kháng cự 50.0% sau khi bị phá vỡ trở thành mức hỗ trợ mới. Cung Fibonacci kế tiếp là cung 100.0% cũng trở thành vùng kháng cự.

2. Cách vẽ Fibonacci Arcs:

- Trong một xu hướng tăng giá, tại một khung giao dịch xác định, ta kéo công cụ Fibonacci Arcs từ điểm giá thấp nhất (Swing Low) lên điểm giá cao nhất (Swing High) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng hỗ trợ (Support) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.

 


- Trong một xu hướng giảm giá, tại một khung giao dịch xác định ta kéo công cụ Fibonacci Arcs từ điểm giá cao nhất (Swing High) xuống điểm giá thấp nhất (Swing Low) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng kháng cự (Resistance) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.



 

Chú ý: Các phần mềm thông thường chạy trên trường Java như của Netdania và Saxobank không có công cụ Fibonacci Arcs. Đối với các phần mềm Metatrader 4, nếu muốn vẽFibonacci Arcsthì người sử dụng phải điều chỉnh thông số phạm vi (scale) ở mức 100 (tức là 100 đơn vị theo lý thuyết).

II. FIBONACCI TIME ZONES 

1. Khái quát về Fibonacci Time Zones:

Fibonacci Time Zones là một dãy các đường dọc cách nhau theo dãy số Fibonacci 1,2,3,5,8,13,21,34 …. Đường thứ nhất được đặt tại một điểm cực (điểm thấp nhất hoặc điểm cao nhất trong một khung giao dịch) trên đồ thị và những đường tiếp theo được đặt lần lượt tại các vị trí kế tiếp theo dãy số Fibonacci. Nhũng thay đổi đáng kể về giá được xem là sẽ nằm gần những đường này tức là sự đảo chiều thường xảy ra tại những đường Fibonacci Time Zones này.

Để xây dựng công cụ này, cần phải xác định 2 điểm để quyết định chiều dài của một khoảng đơn vị thời gian. Tất cả những đường khác được xây dựng dựa trên khoảng đơn vị thời gian này theo dãy số Fibonacci.

Fibonacci Time Zones được áp dụng tốt nhất khi phân tích xu hướng giá dài hạn và có thể có giá trị giới hạn khi nghiên cứu các đồ thị ngắn hạn.

Fibonacci Time Zones được sử dụng để dự đoán các thời kỳ thay đổi giá (chẳng hạn những đỉnh và đáy thị trường). Sau một xu hướng giảm giá thì sự đảo chiều sẽ được dự đoán tại một đường Fibonacci Time Zones quan trọng. Tương tự sau một xu hướng tăng giá thì sự đảo chiều cũng xảy ra nếu một đường Fibonacci Time Zones được giá tiếp cận.

2. Cách vẽ Fibonacci Time Zones:

- Trong một khung giao dịch xác định, ta chọn một điểm đáy thị trường (Lows) rồi kéo công cụ Fibonacci Time Zones từ điểm đó đến một điểm đỉnh thị trường (Highs) hoặc ngược lại rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả các đường Fibonacci Time Zones ứng với các số 0,1,2,3,5,8,13,21,34,…, từ đó sẽ dự đoán được các vùng đảo chiều (Reversal) tại khu vực các đường Fibonacci Time Zones đó.



PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 35 - FIBONACCI FANS VÀ FIBONACCI ARCS


BÀI 35

 FIBONACCI FANS VÀ FIBONACCI ARCS

I.  FIBONACCI FANS

1. Khái quát về Fibonacci Fans:

Fibonacci Fans(Fibonacci hình quạt) được tạo ra bằng cách vẽ một đường xu hướng đi qua 2 điểm (thường là điểm cao nhất và điểm thấp nhất trong một khung giao dịch xác định) rồi phân chia khoảng cách theo chiều dọc giữa 2 điểm đó theo các tỷ lệ Fibonacci quan trọng như 38.2%, 50.0% và 61.8%. Kết quả cho thấy 3 đường xu hướng hình quạt chẽ ra từ cùng 1 điểm và 3 đường Fan này tương ứng với 3 tỷ lệ Fibonacci trên. 

Fibonacci Fans sử dụng tỷ lệ Fibonacci dựa trên thời gian và giá để xây dựng các đường xu hướng hỗ trợ và kháng cự đồng thời nó được sử dụng để đo tốc độ dao động lên hoặc xuống của một xu hướng.
Trong một xu hướng uptrend, nếu giá dao động xuống dưới một đường Fan Trendline thì giá thường được kỳ vọng giảm thêm cho đến khi chạm đường Fan Trendline kế tiếp. Do đó các đường Fan Trendline thường có chức năng là vùng hỗ trợ cho thị trường theo xu hướng tăng giá.
Ngược lại, trong một xu hướng downtrend, nếu giá tăng đến một đường Fan Trenline thì đường xu hướng này có chức năng là ngưỡng kháng cự. Nếu giá vượt qua đường Fan Trendline này thì giá được kỳ vọng tăng cao đến đường Fan Trendline kế tiếp.

2. Cách vẽ Fibonacci Fans:

- Trong một xu hướng tăng giá, tại một khung giao dịch xác định, ta kéo công cụ Fibonacci Fans từ điểm giá thấp nhất (Swing Low) lên điểm giá cao nhất (Swing High) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng hỗ trợ (Support) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.



- Trong một xu hướng giảm giá, tại một khung giao dịch xác định ta kéo công cụ Fibonacci Fans từ điểm giá cao nhất (Swing High) xuống điểm giá thấp nhất (Swing Low) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng kháng cự (Resistance) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.



 
Theo phân tích kinh nghiệm cho thấy một khi dao động giá vượt qua đường Fan Trendline 61.8% thì sự đảo chiều xu hướng hiện tại được chính thức xác nhận.

II. FIBONACCI ARCS

1. Khái quát về Fibonacci Arcs:

Fibonacci Arcs(Fibonacci hình cung) được xem là công cụ tiềm năng để xác định các vùng hỗ trợ và kháng cự. Fibonacci Arcs là các cung có tỷ lệ dựa trên khoảng cách giữa 2 điểm giá cao nhất và thấp nhất. Do đó với khoảng cách giữa 2 điểm cao nhất và thấp nhất là 100 đơn vị thì Fibonacci Arcs 38.2% sẽ là cung bán nguyệt 31.8 đơn vị.

Để xây dựng Fibonacci Arcs, người sử dụng cần xác định 2 điểm cực đối nhau: điểm cao nhất (Swing High) và và điểm thấp nhất (Swing Low). Trước tiên một đường xu hướng được vẽ giữa 2 điểm cực này. Sau đó 3 đường cung sẽ được xây dựng với trung tâm là điểm cực thứ 2 và cắt đường xu hướng tại các mức Fibonacci 38.2%, 50.0% và 61.8%.

Các vòng cung này có chức năng như các vùng hỗ trợ hoặc kháng cự khi giá chạm đến chúng.

Thông thường sau khi giá phá vỡ một cung kháng cự chẳng hạn cung 50.0% thì giá dao động đến tỷ lệ Fibonacci kế tiếp là 61.8% nơi có vai trò là mức kháng cự mới. Mức kháng cự 50.0% sau khi bị phá vỡ trở thành mức hỗ trợ mới. Cung Fibonacci kế tiếp là cung 100.0% cũng trở thành vùng kháng cự.

2. Cách vẽ Fibonacci Arcs:

- Trong một xu hướng tăng giá, tại một khung giao dịch xác định, ta kéo công cụ Fibonacci Arcs từ điểm giá thấp nhất (Swing Low) lên điểm giá cao nhất (Swing High) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng hỗ trợ (Support) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.


 


- Trong một xu hướng giảm giá, tại một khung giao dịch xác định ta kéo công cụ Fibonacci Arcs từ điểm giá cao nhất (Swing High) xuống điểm giá thấp nhất (Swing Low) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng kháng cự (Resistance) tại các tỷ lệ 38.2%, 50.0% và 61.8%.



 
Chú ý: Các phần mềm thông thường chạy trên trường Java như của Netdania và Saxobank không có công cụ Fibonacci Arcs. Đối với các phần mềm Metatrader 4, nếu muốn vẽFibonacci Arcsthì người sử dụng phải điều chỉnh thông số phạm vi (scale) ở mức 100 (tức là 100 đơn vị theo lý thuyết).



PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 34 - FIBONACCI RETRACEMENTS và FIBONACCI EXTENSIONS


BÀI 34

FIBONACCI RETRACEMENTS và  FIBONACCI EXTENSIONS

I. FIBONACCI RETRACEMENTS
1. Khái quát về Fibonacci Retracements:

Fibonacci Retracements được tạo ra bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích và phân chia khoảng cách theo chiều dọc theo các tỷ lệ (Tỷ lệ hoàn lại theo Fibonacci) là một công cụ rất phổ biến trong phân tích kỹ thuật, nó dựa trên dãy số Fibonacci do nhà toán học Leonardo Fibonacci xây dựng vào thế kỷ 13. Fibonacci Retracements được tạo ra bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích và phân chia khoảng cách theo chiều dọc theo các tỷ lệ Fibonacci quan trọng như 23.6%, 38.2%, 50.0%, 61.8% và 100.0%. (Một số phần mềm giao dịch hiện nay như Metatrader tự động sử dụng các mức Fibonacci 0.0%, 23.6%, 38.2%, 50%, 61.8%, 100%, 161.8%, 261.8%, và 423.6% tương ứng với chiều cao tính từ điểm giá cao nhất đến thấp nhất). Một khi những mức này được nhận diện thì các đường nằm ngang được vẽ ra và được sử dụng để nhận diện các mức hỗ trợ và các mức kháng cự có thể có.

Dãy số Fibonacci như sau: 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144,…

- Tỷ lệ Fibonacci 61.8% được tạo ra bằng cách chia một số bất kỳ trong dãy số Fibonacci với số liền sau nó. Ví dụ: 8/13 = 0.6153; 55/89 = 0.6179.


- Tỷ lệ 38.2% được tạo ra bằng cách chia một số bất kỳ trong dãy số Fibonacci với số ở vị trí thứ 2 về bên phải của nó. Ví dụ: 55/144 = 0.3819.

- Tỷ lệ 23.6% được tạo ra bằng cách chia một số bất kỳ trong dãy số Fibonacci với số ở vị trí thứ 3 về bên phải của nó. Ví dụ 8/34 = 0.2352.

Những tỷ lệ này đóng vai trò quan trọng trong thị trường chứng khoán cũng như các thị trường khác và có thể được sử dụng để quyết định những điểm quan trọng mà có thể gây nên sự đảo chiều xu hướng giá. Hướng của xu hướng trước có thể tiếp tục một khi giá hoàn lại về một trong những tỷ lệ nêu trên. Hay nói cách khác, giá đổi xu hướng khi nó chạm các mức hỗ trợ hay kháng cự.

Ngoài những tỷ lệ nói trên thì nhiều nhà đầu tư cũng thích sử dụng các tỷ lệ 50.0% và 78.6%. Tỷ lệ 50.0% không thực sự là một tỷ lệ Fibonacci song nó được sử dụng bởi vì xu hướng giá tiếp tục theo một xu hướng nào đó một khi nó hoàn thành mức hoàn lại 50.0%.

2. Cách vẽ Fibonacci Retracements:

- Trong một xu hướng tăng giá, ta kéo công cụ Fibonacci Retracements được tạo ra bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích và phân chia khoảng cách theo chiều dọc theo các tỷ lệ từ điểm giá thấp nhất (Low) lên điểm giá cao nhất (High) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng hỗ trợ (Support) tại các tỷ lệ 23.6%, 38.2%, 50.0% hoặc 61.8%.



- Trong một xu hướng giảm giá, ta kéo công cụ Fibonacci Retracements được tạo ra bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích và phân chia khoảng cách theo chiều dọc theo các tỷ lệ từ điểm giá cao nhất (High) xuống điểm giá thấp nhất (Low) rồi thả công cụ sẽ hiện ra kết quả, từ đó sẽ nhận diện được các vùng kháng cự (Resistance) tại các tỷ lệ 23.6%, 38.2%, 50.0% hoặc 61.8%.


 



Chú ý một số phần mềm trading trực tuyến chạy trên trường Java như phần mềm của Saxobank.com chỉ sử dụng được 3 mức Fibonacci 32.8%, 50.0% và 61.8%. Ở phần mềm của Netdania.com và phần mềm Metatrader thì chúng ta có thể bổ sung bất kỳ mức Fibonacci Retracements được tạo ra bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích và phân chia khoảng cách theo chiều dọc theo các tỷ lệ nào tùy thích.

II. FIBONACCI EXTENSIONS

1. Khái quát về Fibonacci Extensions:

Các mức Fibonacci là công cụ chuẩn để đo các mức hỗ trợ và kháng cự trong thị trường. Những mức này được tính bằng cách phân tích các mức hoàn lại giữa 2 điểm cao nhất và thấp nhất trong một khung giao dịch. Vấn đề đặt ra là điều gì sẽ xảy ra khi giá vượt qua 2 điểm mà ta sử dụng để tính các mức Fibonacci? Tại điểm nào thì chúng ta kỳ vọng thoát trạng thái? Câu trả lời chính cho những vấn đề này là Fibonacci Extensions (Fibonacci mở rộng). Fibonacci Extensionscho các mục tiêu giá vượt qua mức hoàn lại 100% của xu hướng trước. Các mức Fibonacci Extensions được tính bằng cách lấy các mức Fibonacci chuẩn cộng thêm 100%. Do đó các mức Fibonacci Extensions chuẩn như sau: 138.2%, 150%, 161.8%, 231.8%, 261.8%, 361.8% và 423.6%. 

2. Cách vẽ Fibonacci Extensions:

Bước đầu tiên khi vẽ Fibonacci Extensions là nhận diện 2 điểm dao động cao nhất (Swing High) và thấp nhất (Swing Low). Những điểm này liên quan đến cả khung thời gian hiện tại và chiều dài của xu hướng. Dùng công cụ Fibonacci Extensions kéo từ điểm cao nhất xuống điểm thấp nhất hoặc ngược lại rồi thả công cụ ra sẽ cho kết quả vẽ. Chú ý đối với phần mềm Metatrader thì công cụ Fibonacci Extensions đã được kết hợp chung với Fibonacci Retracements, đối với phần mềm của Netdania.com thì ta có thể dùng công cụ Fibonacci Retracements rồi bổ sung (Add) các mức Fibonacci Extensions như trên.


 

Thông thường về lý tưởng thì sau khi giá vượt qua điểm dao động cao nhất hoặc thấp nhất trong khung dao dịch thì giá có xu thế đi một đoạn cho đến khi chạm mức hoàn lại 261.8%.Khi vận dụng công cụ Fibonacci Extensions thì điều quan trọng là phải biết làm gì khi giá chạm mục tiêu kỳ vọng. Cách tốt nhất là đóng ngay trạng thái tại mức Fibonacci kế tiếp.

PHÂN TÍCH KỸ THUẬT - BÀI 33 - DÃY SỐ FIBONACCI VÀ TỶ LỆ VÀNG


BÀI 33 

DÃY SỐ FIBONACCI VÀ TỶ LỆ VÀNG


I. Fibonacci là ai?

Leonardo Pisano (khoảng 1170 – khoảng 1250), còn được biết đến với tên Leonardo Bonacci, Leonardo Fibonacci, hay phổ biến nhất chỉ là Fibonacci, là một nhà toán học người Ý, được một số người xem là "nhà toán học tài ba nhất thời Trung Cổ".



Fibonacci nổi tiếng nhất trong thế giới hiện đại vì: Có công lan truyền hệ ký số Hindu-Ả Rập ở châu Âu, chủ yếu thông qua việc xuất bản vào đầu thế kỷ 13 trong cuốn Sách tính toán (Liber Abaci) của ông.

Dãy số hiện đại mang tên ông, dãy số Fibonacci, tuy ông không phải là người khám phá nhưng đã dùng nó làm ví dụ trong cuốn Liber Abaci.

Nhận ra rằng số học với chữ số Hindu đơn giản hơn và hiệu quả hơn chữ số La Mã, Fibonacci đã đi du lịch khắp thế giới Địa Trung Hải để học theo những nhà toán học hàng đầu Ả Rập vào thời đó. Leonardo trở về sau chuyến du lịch vào khoảng năm 1200. Vào năm 1202, vào tuổi 32, ông đã phát hành những gì ông học trong Liber Abaci (Sách tính toán), và từ đó đã giới thiệu chữ số Hindu-Ả Rập cho châu Âu.

II. Dãy số Fibonacci và tỷ lệ vàng – cơ sở để phân tích Fibonnaci

Có một tỷ lệ đặc biệt có thể được sử dụng để mô tả các tỷ lệ của mọi thứ trong tự nhiên, từ những kết cấu nhỏ nhất cho đến hạt nhân nguyên tử rồi cả những mô hình tiên tiến nhất trong vũ trụ như các thiên thể lớn. Tự nhiên dựa vào tỷ lệ nội tại này để duy trì sự cân bằng nhưng các thị trường tài chính cũng thể hiện tỷ lệ này. Đó là tỷ lệ vàng.

Trong toán học và nghệ thuật, hai đại lượng được gọi là có tỷ số vàng hay tỷ lệ vàng nếu tỷ số giữa tổng của các đại lượng đó với đại lượng lớn hơn bằng tỷ số giữa đại lượng lớn hơn với đại lượng nhỏ hơn. Tỷ lệ vàng thường được chỉ định bằng ký tự φ (phi) trong bảng chữ cái Hy Lạp nhằm tưởng nhớ đến Phidias, một nhà điêu khắc và kiến trúc sư của đền Parthenon. 
Tỷ lệ vàng là một số vô tỷ:



Các nhà khoa, các nhà toán học và các nhà tự nhiên học biết đến tỷ lệ này đã khá lâu rồi. Nó bắt nguồn từ dãy số Fibonacci, được đặt tên theo người sáng lập dãy số này là nhà toán học Leonardo Fibonacci vào khoảng thế kỷ 12. 
Các số này xuất hiện trong một bài toán được trình bày trong cuốn sách Liber Abaci: “Trong một năm, bắt đầu chỉ từ một đôi thỏ, bao nhiêu đôi thỏ sẽ được sinh ra nêu mỗi tháng một đôi thỏ sinh được một đôi thỏ con và cặp thỏ này lại đẻ đưọc từ tháng thứ hai trở đi?”

Dãy số Fibonacci có nguồn gốc từ bài toán trên là một dãy số sao cho mỗi số hạng, kể từ sau số hạng thứ nhất, bằng tổng của hai số đứng ngay trước nó. Dãy số đó là: 1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89,144.... 

Dãy số trên có những tính chất đặc biệt đáng chú ý. Thật vô cùng bất ngờ, tỷ số giữa hai số liên tiếp nhau của dãy số đó ngày càng tiến đến số tỷ lệ vàng là 1.618 (căn bậc 2 của 5 cộng 1 rồi chia cho 2) và số nghịch đảo của nó là 0.618 (1 chia cho 1.618). Các tỷ số đó là : 1/1, 1/2, 2/3, 3/5, 5/8, 8/13, 13/21, 21/34, 34/55, 55/89, 89/144.

II. Fibonacci trong tự nhiên và ứng dụng trong phân tích kỹ thuật

Dãy số Fibonacci xuất hiện ở khắp nơi trong tự nhiên. Những chiếc lá trên một nhành cây mọc cách nhau những khoảng tương ứng với dãy số Fibonacci. Các số Fibonacci cũng xuất hiện trong những bông hoa: hầu hết các bông hoa có số cánh hoa là một trong các số: 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55 hoặc 89. Hoa loa kèn có 3 cánh, hoa mao lương vàng có 5 cánh, hoa phi yến thường có 8 cánh, hoa cúc vạn thọ có 13 cánh, hoa cúc tây có 21 cánh, hoa cúc thường có 34, hoặc 55 hoặc 89 cánh. Thật kỳ diệu thay.

Các số Fibonacci cũng xuất hiện trong các bông hoa hướng duơng. Những nụ nhỏ sẽ kết thành hạt ở đầu bông hoa hướng dương được xếp thành hai tập các đường xoắn ốc: một tập cuộn theo chiều kim đồng hộ, còn tập kia cuộn ngược theo chiều kim đồng hồ. Số các đường xoắn ốc hướng thuận chiều kim đồng hồ thường là 34 còn ngược chiều kim đồng hồ là 55. Đôi khi các số này là 55 và 89, và thậm chí là 89 và 144. Tất cả các số này đều là các số Fibonacci kết tiếp nhau.

Tỷ lệ vàng không chỉ xuất hiện trong tự nhiên mà còn xuất hiện trong nghệ thuật như là lý tưởng cổ điển về cái đẹp. Có một điều gì đó thần kỳ bao quanh dãy số Fibonacci. Thực tế, hiện nay Hội Fibonacci đang hoạt động dưới sự lãnh đạo của một linh mục và có trung tâm ở Trường Đại học St. Mary tại California. Mục đích của Hội là tìm kiếm các ví dụ của tỷ lệ vàng cũng như của các số Fibonacci trong tự nhiên, trong nghệ thuật và trong kiến trúc với niềm tin rằng tỷ lệ vàng là món quà Thượng đế ban tặng cho thế giới này. Như là chuẩn mực của cái đẹp. tỷ lệ vàng hiện diện ở nhiều nơi. Ở Điện Parthenon của thành Athens chẳng hạn, tỷ số giữa chiều cao và chiều dài của Điện Parthenon chính là tỷ lệ vàng.

Kim tự tháp vĩ đại ở Giza được xây dựng từ nhiều trăm năm trước Điện Parthenon của Hy Lạp cũng có tỷ số giữa chiều cao của một mặt với một nửa cạnh đáy là tỷ lệ vàng. Một bản viết trên giấy cỏ Rhind của người Ai Cập có nhắc tới "Tỷ lệ thần thánh". Các pho tượng cổ cũng như các bức tranh thời kỳ Phục Hưng đều biểu hiện các tỷ lệ bằng tỷ lệ vàng, một tỷ lệ thần thánh. 


Người trung cổ cho rằng một người phụ nữ có dáng đẹp lý tưởng là người có tỷ lệ số đo các vòng (vòng 1, 2, 3) là tỷ lệ vàng.


Vậy đó bạn ạ. Những điều kỳ thú của thiên nhiên giúp chúng ta khai thông trí não để có thể khám phá những cái khó hơn trong thực nghiệm cuộc sống. Giờ đây chắc hẳn bạn sẽ tin vào tỷ lệ vàng mà chẳng còn hồ nghi chút nào. 


Bạn có cần tự chứng minh để làm căn cứ chắc chắn cho những phân tính theo phương pháp Fibonacci sau này chăng? Vậy thì đây, hãy thử đo chiều dài từ vai đến các đầu ngón tai bạn thử xem, lấy kết quả số đo này chia cho số đo chiều dài từ khuỷu tay đến các đầu ngón tay. Thử xem bạn có kết quả thế nào. Hoặc thử đo chiều dài từ đầu đến bàn chân rồi chia kết quả đó cho chiều dài từ rốn đến bàn chân. Thử xem kết quả 2 lần có giống nhau không? Thử xem chúng xấp xỉ 1.618 hay không? 


Vậy tỷ lệ vàng có thể hiện tốt trong tài chính hay không? Thực ra thị trường có cùng cơ sở toán học giống như những hiện tượng tự nhiên nêu trên. 


Khi được sử dụng trong phân tích kỹ thuật, tỷ lệ vàng được diễn giải thành 3 dạng tỷ lệ điển hình: 38.2%, 50.0% và 61.8%. Tuy nhiên có nhiều tỷ lệ khác có thể được sử dụng khi cần thiết như 23.6%, 76.4%, 78.6%, 161.8%, 423.6%, v.v.. 


Có 5 phương pháp ứng dụng dãy số Fibonacci chủ yếu trong tài chính là Fibonacci RetracementsFibonacci ExtensionsFibonacci FansFibonacci Arcs và Fibonacci Time Zones. Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu chi tiết từng phương pháp.


Trước khi bước vào nghiên cứu sâu hơn về phương pháp Fibonacci, bạn hãy suy ngẫm lại triết lý của dãy số Fibonacci và tỷ lệ vàng để rút ra một điều kỳ thú gì đó cho riêng mình